Âm: nhân
Bính âm (Pinyin): rén
Con người, nhân loại, lòng nhân từ (nhân dân, nhân loại, nhân tâm, nhân nghĩa).
Các chữ đơn trực thuộc bộ 人 (26 chữ)
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ tượng hình, tự bản thân là một bộ thủ độc lập (bộ Nhân 人). Vẽ hình người đứng nghiêng đang bước đi.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Chữ tượng hình: vẽ một người đứng nghiêng, hai nét là hai chân đang bước.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 人 (40)
Âm cũ, quen ở Nam Bộ, của nhân: nhơn 人 là người (nhơn dân, chủ nhơn); nhơn 仁 là lòng thương người (nhơn đức); nhơn 因 là nhân lúc, nhân có, và nguyên do (nguyên nhơn); nhơn 姻 trong hôn nhơn là việc cưới gả.
Người đã giúp đỡ, cứu mình hay làm ơn cho mình, mà mình mang ơn.
Một người riêng lẻ, kể riêng ra chớ không phải cả đám đông, cả đoàn thể hay cả xã hội.
Là người cũ, nhứt là người mình từng thương, nên nó có cái tiếc ở trong; cũng dùng cho người quen cũ, bạn cũ lâu ngày gặp lại.
Người đời xưa, nhứt là những người để lại lời hay, việc làm cho đời sau noi theo.
Bằng cấp của người học xong bậc đại học; cũng gọi người có bằng đó.
Người đàn bà, con gái đẹp; người đẹp, nói theo lối văn chương.
Hiền lành, có lòng thương người, hay làm ơn và dễ tha thứ.
Không có lòng thương người, ăn ở ác, nỡ lòng làm khổ người khác.
Người làm chủ một cái gì, một nhà, một tiệm, một con vật hoặc một đồ vật.
Tiếng xưa dùng để gọi cách kính trọng người có chức lớn, có danh vọng; hay đặt sau họ của người đó.
Gia nhân 家人 là người hầu, người làm trong một nhà theo lối gọi cũ, thường gặp trong bọn gia nhân, đứa gia nhân.
Việc lấy nhau thành vợ chồng, và cái ràng buộc từ đó.
Người phải chịu cái hại do người khác hoặc do tai nạn gây ra.
Là người hứng lấy cái hại trong một tai nạn hoặc một vụ án, và cũng dùng theo nghĩa bóng cho người hứng lấy một mối tình.
`Não nhân` là từ Hán Việt cũ `惱人`. Trong văn chương Việt, từ thường được hiểu là khiến người khác buồn khổ, đau lòng, như lối nói `một thiên X não nhân`. Nguồn Hán văn còn ghi nét làm người khác buồn bực hoặc giận tức; nét này cần chú thích theo văn cảnh, không tự đưa vào lời nói hiện đại. `Nhân` ở đây là `人` nghĩa người khác, không phải `nhân` nguyên nhân và toàn từ không có nghĩa người làm việc bằng não. Hiện nay nên dùng `làm đau lòng`, `khiến buồn bực`, `gây xót xa` cho rõ, trừ khi cố ý giữ giọng cổ. `Não nhân` miêu tả tác động cảm xúc trong câu; nó không tự chứng minh câu chuyện có thật, người gây ra có ác ý, người nghe mắc bệnh tâm thần hay có căn cứ quy trách nhiệm.
Hết thảy những người sống trong một nước, một vùng, kể chung, không kể riêng ai; đám đông người thường.
Lòng thương người, biết đối xử tử tế, rộng lượng với kẻ khác, nhứt là kẻ yếu thế.
Người giỏi giang hơn người thường, làm được việc lớn, việc khó mà ít ai làm nổi.
Do tay người làm ra, không phải trời sanh có sẵn; trái với tự nhiên.
Người trong một truyện hay một phim; và cũng là một người có vai vế.
Là người trong một cuốn truyện, và cũng là người có tiếng trong một vùng, viết theo lối phát âm Nam Bộ.
Tiếng gọi cho trọng người vợ của ông quan, của người có chức phận hay nhà giàu sang.
Là bà vợ của một ông có chức phận, gọi theo lối trọng, viết theo lối phát âm Nam Bộ đọc nhân thành nhơn.
Dạng cũ và Nam Bộ của sát nhân (殺人): tội, vụ giết người trong lời tòa án, pháp luật (tội sát nhơn, vụ sát nhơn); và người bị gọi là kẻ giết người (kẻ sát nhơn).
Là người đã bị buộc tội hoặc đang chịu án, nên nó chỉ dùng trong chỗ tòa, chỗ khám, viết theo lối phát âm Nam Bộ.
Người đang có bịnh và đang được thầy thuốc coi sóc.
Tiếng gọi tôn một bậc tu tiên đã thành đạo, có phép lạ; hay đặt sau tên hiệu của vị đó.
`Chơn nhơn` là dạng văn cũ/Nam Bộ của `chân nhân` (`真人`). Trong Đạo giáo và truyện chịu ảnh hưởng Đạo giáo, từ chỉ người đã đạt mức tu chứng cao, hoặc được dùng làm tôn hiệu cho tiên nhân, đạo sĩ hay nhân vật linh thiêng. Phải hiểu cả tổ hợp: `chơn` là dạng cũ của `chân` ở lớp `真`, còn `nhơn` là dạng Nam Bộ cũ của `nhân` ở lớp `人`; không cộng nghĩa mặt chữ thành ‘người chân thật’, không gọi mọi người tốt, tu sĩ, thầy thuốc hay người có phép là chơn nhơn. Khi là một phần tôn hiệu như `Tôn Thánh chơn nhơn`, phải giữ tên theo nguyên văn và viết hoa theo chức năng tên gọi.
Người làm công ăn lương, nhứt là thợ trong xưởng, hãng hay sở; cũng nói chung người đi làm thuê cho chủ.
Người nổi tiếng, có tài hay có công lớn, được người đời nhớ và kính trọng.
Chữ Hán 佳人: người đẹp, thường là người con gái đẹp, trong lời văn trang trọng (tuyệt thế giai nhân, tài tử giai nhân); trong văn cũ còn là người tốt, có tài đức (giai nhân quân tử).
Thứ hột dẹp, hơi nhọn một đầu, ăn bùi và béo, hay dùng làm bánh kẹo.
Người có đức, ăn ở ngay thẳng, tử tế, được người đời kính trọng.
Hình làm ra cho giống người, thường cắt dán bằng giấy.
Nết na, lối ăn ở cư xử của một người, xét coi người đó tốt xấu, đáng trọng tới đâu.
Người làm công, sức lao động bỏ ra để làm một việc.
Cả loài người, coi như một khối.
Giá trị làm người của một người, cái đáng được người khác tôn trọng, không ai được coi rẻ.
Đời sống của con người, cuộc sống chung của mọi người trên đời.