Âm: thân
Bính âm (Pinyin): shēn
Thân thể vóc dáng con người.
Các chữ đơn trực thuộc bộ 身 (2 chữ)
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Bộ thứ 158 trong 214 bộ thủ Khang Hy (7 nét): Thân thể vóc dáng con người.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Bộ thân (身): Thân thể vóc dáng con người.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 身 (40)
Được yên ổn cho tấm thân, khỏi lo, khỏi bị phiền hay bị hại.
Lánh mình vô một chỗ kín hay chỗ vắng để người ta không tìm ra, không quấy rầy tới mình.
Thương mến mà gần gũi, đối đãi với nhau bằng tình nhà.
Nửa người phía trên, từ ngực hay từ bụng trở lên; nói tấm ảnh, cái bóng chỉ có phần đó.
Chính mình, tự thân mình; cái người hay cái vật xét riêng, không kể gì khác.
Là người bạn gần gũi nhứt, nói được chuyện riêng, nên trong truyện bạn thân là người đầu tiên biết một chuyện kín.
Rất gần gũi, khắng khít hơn hết; thường nói về bạn bè.
Chưa có vợ có chồng, ở một mình không đôi bạn.
Chỉ có một thân một mình, không có ai đi cùng, không có đôi có bạn.
Phần đời về sau của chính mình; chuyện ăn ở, tiền bạc để sống lúc về sau.
Đổi mình ra một hình dạng khác mà hiện ra; thường nói về các đấng trong đạo Phật.
Tự chuốc cái khổ vô mình, làm cho mình phải cực, phải chịu thiệt.
Tự dựng lấy chỗ đứng của mình trong đời, bằng học hay bằng nghề.
Là cha, nói theo lối chữ nghĩa trang trọng, nên trong truyện nó là tiếng của người trong dòng dõi cao, và nghe xa cách hơn tiếng ba.
Người tìm tới một thầy thuốc, thầy bói, thầy kiện hay một cửa hàng để nhờ việc, trả tiền; khách quen của một nghề.
Là gần gũi và kín đáo, nói cái lối đối với nhau giữa những người đã thân, nên nó tả cái không khí chớ không tả cái tình.
Gần gũi và được quý mến, gợi tình cảm thân thương.
Cha ruột, người sanh ra mình; tiếng trang trọng để gọi cha của mình hay cha của người đang được nhắc tới.
Gốc gác, hoàn cảnh cuộc đời một người; theo lối nói Nam Kỳ xưa còn là thế lực, chỗ dựa quen biết.
Cả mình mẩy của một con người, phần xác thịt, đối với tấm lòng hay trí óc.
Gần gũi và được tin hoàn toàn, nói về người dưới tay hay người giúp việc được giao cả việc riêng.
Bà con một họ, người trong họ của mình.
Cái thân thể của con người, nhứt là khi nói nó đối với tâm hồn, hay khi nó ốm o, cứng đờ, bị hành hạ.
Vừa gần vừa thương, nói về người trong nhà và về đất mình ở.
Thấy tủi cho phận mình, cái buồn quay vô trong chớ không trách ai.
Được để cho yên, không ai quấy rầy, và đó là cái người ta cầu nhứt.
Dùng phép lạ đổi mình ra hình khác hay làm cho mình mất dạng, như trong truyện xưa.
Đứng thẳng người lên sau khi quì lạy; cũng là lời bề trên cho phép người đang quì đứng dậy.
Chính mình đi làm, chớ không nhờ ai thay.
Là có một chỗ để tấm thân mình được dung nạp, tức là nương náu qua ngày, nên nó luôn nói về người đã mất chỗ ở.
Đem trọn đời mình ra lo cho một việc lớn mà mình tin, không còn giữ gì cho riêng mình.
Người hay vật mà nhìn vô là thấy trọn một điều gì đó, như thể điều đó mang hình người, hình vật mà hiện ra.
Biết nhau đã lâu, gần gũi thường, coi nhau gần như người nhà.
Thân phận và danh dự của một người, cái địa vị và tiếng tăm mình có trong đời.
Cái mình của một người, coi về bề vóc và cái dáng.
Phần thân thể của người hay con vật, nhứt là phần mình ở giữa, không kể đầu và tay chân.
Người thân thuộc trong gia đình, họ hàng; nhứt là khi nói những người tới thăm nuôi, lo tang hay nhận xác.
Chỗ đứng thấp của một người trong đời, cái mình biết mà không đổi được.
Cả cái mình, hết thảy thân thể từ đầu tới chân.
Ra khỏi nhà mà đi làm ăn, bước vô đời; cũng là chỗ gốc mình từ đó mà ra.