Nghĩa chữ
Chữ 私 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 私 (31)
Tên cũ của nước Iran, xứ Persia xưa; văn Nam Bộ nhắc tới qua tượng cổ, tuồng tích và các dân tộc lâu đời.
Bộ mặt và cái bụng của một người đang nghĩ nhiều trong bụng, nên không vui.
Lo nghĩ, buồn rầu trong lòng vì một chuyện chưa yên; cũng là nỗi lo nghĩ đó.
Không lo nghĩ, không bận lòng chuyện gì, cứ vui sống tự nhiên.
Tên cũ của nước Brazil ở Nam Mỹ; Sơn Nam nhắc nó cùng Mễ Tây Cơ khi bàn chuyện người Âu châu qua Mỹ châu lập quốc.
Bỏ tiền của, công sức vô một việc làm ăn, một kỹ nghệ hay đất đai, trông về sau thu lời; cũng chỉ chính công cuộc bỏ vốn đó.
Của cải, tiền bạc, ruộng đất mà một nhà đang có; cái vốn liếng làm ăn của một gia đình.
Chỗ hai con đường cắt nhau, từ đó rẽ ra được bốn ngả.
Suy nghĩ sâu xa, trầm ngâm về một điều gì.
Là chỗ nghĩ và chỗ cảm ở trong lòng một người, nên nó là cái chỗ chớ không phải cái nỗi, và người ta nói trong tâm tư.
Đứng hàng số bốn khi đếm lần lượt: sau cái thứ ba, trước cái thứ năm.
Phẩm chất làm người của một người; cũng là cái vai mình đứng khi làm một việc.
Người làm công ăn lương cho hãng tư, không phải cho nhà nước; đối với công chức.
Ăn ở với nhau ngoài chuyện cưới hỏi, giấu người ta.
Quần dài kiểu Âu, may bằng vải cứng, có lưng, có túi, thường mặc với áo sơ mi.
Của riêng một người, không dính tới ai khác.
Thương một người mà không gần được, thương tới mức sanh bịnh.
Là cái nghĩ của một người nói như một khối, nên nó khác ý kiến ở chỗ ý kiến là một điều còn tư tưởng là cả cái nếp nghĩ.
Là bộ áo quần kiểu Tây, và trong truyện nó luôn kể rõ màu với thứ vải, vì mặc nó là một dấu của bực người.
Mễ Tây Cơ là tên cũ của nước Mexico, phiên theo âm Hán Việt, hay gặp trong sách báo miền Nam trước đây, đi cùng Ba Tây là Brazil.
Là thuốc theo lối Tây phương, đặt đối với thuốc bắc và thuốc nam, nên cụm thầy thuốc tây nghĩa là bác sĩ.
Tiếng Pháp, theo cách người miền Nam kêu hồi đó.
Phương Tây, tức các nước Âu Mỹ và nền văn hóa, phong tục của họ, đối lại với Đông phương; trong đạo Phật, Tây phương cực lạc là cõi Phật A Di Đà ở phía tây.
Moscow, theo lối phiên âm cũ qua chữ Hán. Sách vở miền Nam nhắc tên này như một nơi người ta được gởi đi học.
New Zealand, theo lối phiên âm cũ. Sách vở miền Nam nhắc tên nầy trong danh sách các đoàn quân đồng minh thời đó.
Tây Ban Nha, nước ở tây nam Âu châu. Học giả miền Nam nhắc tên nầy vì các cố đạo của họ từng ghi tên đất của ta bằng chữ La Tinh, và vì tàu của họ từng được ưu tiên thuế bến.
Nhớ thương một người tới mức buồn rầu, bần thần như mắc bịnh, thường vì thương mà không được đáp lại.
Đại Tây Dương, tên biển lớn nằm giữa châu Âu, châu Phi và châu Mỹ; tên chữ nghĩa là biển lớn phía tây.
Nói tiếng Pháp; hồi người Pháp còn ở xứ nầy, người Nam kêu người Pháp là Tây nên tiếng Pháp là tiếng Tây.
Người thầy thuốc chữa bịnh theo lối Tây phương, dùng thuốc Tây, khác với thầy thuốc Nam hay thầy thuốc Bắc.
Tiếng Tây ba rọi là cách nói cũ, thường gặp trong văn chương và khẩu ngữ miền Nam, chỉ tiếng Pháp nói không rành, tiếng được tiếng mất, sai hoặc pha tạp: halting or broken French. Tây trong cụm lịch sử nầy trỏ tiếng Pháp chứ không bao quát mọi ngôn ngữ phương Tây. Ba rọi mang lời đánh giá về cách nói, có thể vui, tự trào hoặc chê; khi viết trung tính nên mô tả cụ thể người nói biết ít tiếng Pháp, nói chưa lưu loát hay dùng câu pha trộn. Cụm không đo trí thông minh, học vấn chung hoặc căn cước của người nói.