Nghĩa chữ
Chữ 官 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 官 (23)
Hết thảy các ông quan trong triều, lớn nhỏ, bên văn bên võ, nói gộp lại.
Chỉ thấy mặt xấu, mặt tối của sự việc, tin rằng mọi chuyện sẽ không ra gì.
Sở hay tổ chức được lập ra để lo một việc chung, như việc cai trị trong tỉnh hay việc chỉ nghề cho dân.
Lớn chuyện, đáng kể, đáng phải lo; nói một việc có ảnh hưởng nhiều tới đời sống, quyền lợi của người ta.
Chỉ nhìn theo ý mình, cảm nghĩ của mình, mà không xét cho đúng cái thiệt bên ngoài, nên dễ lầm.
Khá, coi được, đáng mừng; cũng nói tình hình có chiều tốt lên.
Ngó việc gì cũng thấy còn đường tốt, trong lòng tin đời rồi sẽ êm.
Là coi cho kỹ để biết, nên nó khác coi trơn ở chỗ coi là thấy, còn quan sát là coi có chủ ý mà rút ra điều gì.
Cái hộp bằng ván hoặc bằng đá để liệm người chết mà đem chôn.
Để lòng tới một việc hay một người, coi đó là đáng cho mình bận tâm.
Đứng ngoài mà coi, không dính vô, coi như chuyện đó không phải chuyện của mình.
Cái trong thân thể giúp con người biết được chuyện chung quanh: mắt để thấy, tai để nghe, mũi để hửi, lưỡi để nếm, da để rờ.
Người đàn ông đã bị thiến, được dùng hầu hạ trong cung vua thời xưa.
Có dính dáng với nhau, chuyện nầy đụng tới chuyện kia, không tách rời ra được.
Chỗ đứng mà một người ngó ra việc đời, rồi từ đó mà xét mà nói.
Là cái cách nghĩ về một việc, nên nó khác ý kiến ở chỗ ý kiến là một điều còn quan niệm là cái khuôn mình dùng để xét.
Ở bên ngoài mình, có sẵn hay xảy ra không tùy theo ý muốn, cảm nghĩ của riêng ai.
Là đáng để tâm, có sức nặng trong một việc, và nó nói được cả việc, cả một chức, nên nó cũng làm danh từ: sự quan trọng.
Là người đứng ra buộc tội trước tòa thời Pháp, nên nó là cái cửa dân tới mà kiện, và nó đứng cùng bộ với quan Chủ quận và ông Cò.
Quan Chánh Bố là cách gọi viên quan hành chính đứng đầu hay ở cấp cao của một tỉnh Nam Kỳ thời cũ, người ra trát, ra lịnh xuống quan Phủ và làng.
Cách một người nhìn cuộc đời, nghĩ coi sống để làm gì và phải sống ra sao.
Chức quan người Pháp đứng đầu việc cai trị một tỉnh ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc.
Tiếng gọi kính ông bác sĩ của nhà thương nhà nước thời xưa, người khám bịnh, coi mạch và cho thuốc.