Âm: âm
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 音 ở trên, 心 ở dưới. Chữ nầy xếp vào bộ tâm 心, nghĩa là tim, lòng.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 音 ở trên, 心 ở dưới. Chữ nầy xếp vào bộ tâm 心, nghĩa là tim, lòng.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 意 (40)
Ý xấu, ý muốn làm hại hay làm khổ người khác.
Cái ý kín giấu sau lời nói hay việc làm, không nói thẳng ra.
Là làm có chủ tâm, biết rõ mình đang làm gì, nói đối lại với vô tình.
Là đặt cái ý mình vô một chỗ, nên nó có hai nghĩa: nhận thấy một điều, và có lòng muốn về một người hay một việc.
Là nói quanh để coi người ta nghĩ sao trước khi mình nói thẳng, cái nước dò đường của chuyện cưới hỏi và chuyện làm ăn.
Không để ý cho kỹ trong một lúc, nên để xảy ra điều lỡ, điều hại.
Là cho người khác thấy cái ý của mình mà không nói thẳng, nên nó hay đi liền chữ muốn, và nó cũng tỏ được bằng một cái cười hay một cái lắc đầu.
Do ý mình, không ai ép và không ai xúi; cũng dùng để nhường quyền định.
Không để ý, không cẩn thận nên lỡ làm hay lỡ nói điều không nên.
Cái bụng thiệt của một người đang giấu trong lời và trong nét mặt, và cái để bụng cho phải phép.
Là dồn cái ý vô một chỗ, và cụm đáng chú ý là lối nói quen của nhà văn để chỉ ra cho người đọc thấy một điều.
Điều mình cố ý nhắm tới khi làm việc gì; cũng dùng như động từ là cố ý, nhắm để.
Nhìn lời nói, vẻ mặt, cách cư xử của người khác mà đoán họ nghĩ gì, muốn gì, thương ghét ra sao, nhiều khi thành có vẻ như; cũng là dò, hỏi để biết ý người khác trước khi làm.
Được như ý nên vui ra mặt, cái vui của người vừa toại nguyện.
Điều chính mà một lời nói, một bài viết muốn nói, kể gọn lại chớ không nhắc từng chữ.
Bỏ cái đã định mà lấy cái khác, thứ người ta vừa sợ vừa mong ở người khác.
Nói hay làm một cái cho người ta nghĩ ra, chỉ cho một ý.
Có chứa một ý bên trong mà không nói thẳng ra; ngầm có ý.
Dạng cũ Nam Bộ của hợp ý: điều gì vừa ý, đúng ý ai; hoặc hai người ăn ý, hợp tánh với nhau.
Hiểu ra ý người khác muốn nói hay ý của một việc mà không cần ai nói rõ ra.
Để ý tới, đem trí mình đặt vô đó; cũng nói việc nhắc cho ai để ý một chuyện.
Vừa lòng, thấy được như mình muốn, không còn đòi gì thêm.
Nói ra cho người khác biết điều mình muốn, mình đề nghị hay mình tính làm.
Gởi một ý kín vô lời nói, việc làm hay hình ảnh mà không nói thẳng ra; cũng dùng như danh từ chỉ cái ý kín đó.
Đúng như lòng mình mong muốn, không có gì trái với điều mình trông đợi.
Theo ý mình muốn, muốn sao làm vậy, không ai ép buộc; cũng là để cho một người tự quyết lấy.
Là thấy đúng ý mình nên bằng lòng, nên nó đo cái vừa lòng chớ không đo cái hay dở của vật.
Hạp với ý mình, ưng; và làm cho vừa ý là làm cho người ta ưng.
Cái lòng đã quyết, muốn cho được rồi giữ hoài không đổi.
Là cùng một ý với người khác, nên nó không phải là cho phép mà là thấy giống nhau, và nó dùng cho cả hai người lẫn một hội đồng.
Ý định có sẵn trong bụng khi nói hay làm một việc, thường không nói thẳng ra cho người ta biết.
Cùng một ý với nhau, nghĩ giống nhau nên không phải cãi.
Không vừa lòng, hơi bực mình vì điều gì trái ý mình.
Sanh ý là dạng cũ và Nam Bộ của sinh ý 生意 trong lớp nghĩa làm ăn, buôn bán hoặc nghề sinh sống. Văn Nam Kỳ thế kỷ XIX và đầu XX còn dùng coi sanh ý, bộ sanh ý và đặc biệt bài sanh ý, thuế sanh ý, đóng/lãnh sanh ý để nói giấy phép hay khoản thuế gắn với hoạt động buôn bán, hành nghề trong chế độ đương thời. Không đồng nhứt máy móc bài sanh ý với mọi loại giấy phép kinh doanh hiện nay, cũng không lấy tên thuế cũ để kết luận nghĩa vụ pháp lý hiện tại. Các nghĩa Hán văn khác của 生意 như sức sống hoặc thần thái không tự nhập vô đầu mục lịch sử nầy.
Cách nói cũ và Nam Bộ của tính ý: tính nết cùng cách nghĩ, cách muốn và cách phản ứng quen thuộc của một người; hai người tánh ý giống nhau hay khác nhau, hạp tánh ý hay không.
Cái bụng của một người đối với ai, cái họ nghĩ mà chưa nói.
Làm khác cái người ta muốn, không theo ý của người trên.
Cái mình đã tính làm nhưng chưa làm, thứ có thể bỏ được.
Là cái mình nghĩ về một việc, nói ra cho người khác nghe, nên nó khác ý muốn: ý muốn là cái mình muốn, còn ý kiến là cái mình thấy.
Là cái mình muốn trong bụng, và cụm có ý muốn là lối Nam Bộ nói rằng mình đã tính trong trí mà chưa làm.