Âm: kim
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 今 ở trên, 口 ở dưới. Chữ nầy xếp vào bộ khẩu 口, nghĩa là miệng.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 今 ở trên, 口 ở dưới. Chữ nầy xếp vào bộ khẩu 口, nghĩa là miệng.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 含 (17)
`Ngàm` là phần đầu thanh gỗ được khoét, đục hoặc tạo hình thành khấc để lắp ăn khớp với đầu của thanh khác trong một mối nối. Tên gọi thường gặp trong nghề mộc, đóng thuyền và kết cấu gỗ; hình dạng, kích thước, chiều chịu lực và quan hệ giữa `ngàm`, `mộng`, `lỗ mộng` phải theo bản vẽ cùng quy ước của từng nghề, không thể suy chỉ từ một câu từ điển. Trong lời phổ thông, `khấc`, `rãnh`, `mộng`, `khớp` chỉ gần nghĩa ở một phần, không thay máy móc. Không gọi mọi chỗ lõm, vết nứt hay đầu gỗ hư là ngàm; việc hai phần trông vừa nhau cũng chưa chứng minh mối nối đạt chuẩn hay chịu tải an toàn. Khi dịch, có thể dùng *notch*, *housing*, *joint recess* hoặc tên mối nối chuyên biệt theo cấu tạo. Chữ Nôm `𤅙` ghi nhận mặt chữ đầu mục, không thay hồ sơ kỹ thuật.
Khép môi, giữ miệng đóng lại, không nói (ngậm câm); giữ một vật trong miệng mà không nuốt, không nhả (ngậm điếu thuốc, ngậm kẹo); nghĩa bóng là nén chịu điều cay đắng trong lòng (ngậm đắng nuốt cay).
Có chứa một ý bên trong mà không nói thẳng ra; ngầm có ý.
Nói năng, xét đoán bừa, không có gì làm bằng, không rõ ràng đâu ra đó.
Có chứa sẵn ở bên trong một ý, một nghĩa, dù không nói hẳn ra.
Bị người ta nghi, đổ cho điều mình không có làm mà chưa nói ra cho rõ được; cũng là nỗi bị nghi bậy đó.
Chứa ở trong nhiều ý, nhiều tình mà lời thì ngắn gọn; lời ít mà ý nhiều.
Hất cằm lên mà ra dấu, một cử chỉ có khi thay cho lời.
Là cả dãy răng trên hoặc dưới, kể chung một khối, và trong văn nó là một nét để tả người.
Chức huyện ban cho mà không phải làm việc, một tước mua được thời trước.
Buồn rầu, đau xót, thương cảm một cách lặng lẽ, thường trước một cảnh chia ly, một mất mát hay một phận người đáng thương.
Khép miệng lại (nghĩa đen); thường dùng theo nghĩa không nói ra, giữ im lặng, nhiều khi vì không dám hay không muốn nói.
Kiểu giày xưa ở Nam Bộ, mũi bít, miệng rộng gợi hình hàm con ếch, bằng da hay da láng, thường mang với áo dài khăn đen hay mang đi trong nhà.
Hai hàng răng trên và dưới trong miệng, tức là cả bộ răng của một người.
Người mang hàm tri huyện, tức cái tước huyện được ban cho làm danh dự chớ không cai trị huyện nào, thường là người giàu có, danh giá ở Nam Kỳ thời trước.
Ngậm đắng nuốt cay là thành ngữ chỉ việc nhẫn nhục chịu đựng đau khổ, tủi cực mà không nói ra được.
`Ngậm bồ hòn làm ngọt` là thành ngữ lấy hình ảnh quả bồ hòn đắng/chát nhưng phải coi như ngọt để nói cảnh nhẫn nhịn, chịu thiệt hoặc nuốt ấm ức mà bề ngoài vẫn tỏ ra ổn, vui vẻ hay không phản đối. Dạng rút `ngậm bồ hòn` thường mang cùng nghĩa. Thành ngữ mô tả thế khó hoặc lựa chọn im lặng trong một hoàn cảnh; không tự chứng minh người ấy yếu, đạo đức cao, đồng ý, tha thứ hoặc không bị tổn hại. Đặc biệt không dùng câu như lời khuyên phải chịu bạo lực gia đình, quấy rối, bóc lột, gian lận, nguy hiểm hay mất quyền lợi chính đáng; người trong cảnh ấy có thể tìm nơi an toàn, hỗ trợ, tư vấn chuyên môn và kênh khiếu nại phù hợp. Bản dịch tùy câu có thể là *swallow one's bitterness*, *put on a brave face*, *suffer in silence*; không dịch đen thành đang ăn quả. Tab chữ chỉ ghi `含` cho thành tố ngậm theo nguồn, không dựng cách viết Hán Nôm toàn thành ngữ.