Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 咅 bên trái, 阝 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ ấp 邑, nghĩa là vùng đất, làng.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 咅 bên trái, 阝 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ ấp 邑, nghĩa là vùng đất, làng.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 部 (40)
Tiếng Nam Bộ đầu câu hỏi, nêu điều mình đoán để người nghe xác nhận (bộ anh muốn vậy sao); danh từ là một nhóm vật thành bộ (bộ đồ, bộ ván); vẻ ngoài (coi bộ, làm bộ); chữ 步 là bước, đi bằng chân (đi bộ, bộ hành); chữ 部 là phần của một chỉnh thể (bộ phận, bộ lạc).
Là một bộ áo quần đủ cặp, và vì tiếng bộ là tiếng đếm một bộ nên nó cũng dùng cho một bộ đồ vật đi chung với nhau.
Người dưới tay một người, theo mà làm việc cho người đó.
Bộ quần áo gồm áo với quần may đồng bộ, lối ăn mặc quen ở miền Nam, thường mặc ở nhà hay đi gần.
Lối nói Nam Bộ cũ: bộ là dáng vẻ, coi là trông, nên bộ coi đi với tính từ hay lời tả phía sau để tả người đó trông ra sao, như bộ coi buồn lắm, bộ coi gọn gàng lắm.
Nhóm người thời xưa sống chung với nhau thành một khối, có người đứng đầu, chưa thành một nước.
Là cái mặt kể cả nét đang mang trên đó, nên nó khác gương mặt ở chỗ nó nói tới cái vẻ chớ không tới hình dáng.
Một ngành riêng trong việc học, nghệ thuật hay nghề nghiệp, có cách làm và hiểu biết riêng của nó.
Món đồ gỗ trong nhà Nam Bộ, mặt ghép bằng mấy tấm ván lớn đặt trên chân, dùng để ngồi, nằm, tiếp khách, uống trà, ăn trầu.
Là tiếng bác lại một điều người ta vừa ngụ ý, kiểu chớ anh tưởng là gì, và sau nó luôn là một câu hỏi vặn.
Tiểu từ khẩu ngữ Nam Bộ đứng cuối câu để nhấn mạnh điều người nói cho là hiển nhiên, là đúng (lớn rồi chứ bộ); đứng giữa câu trong mẫu X chứ bộ Y sao để bác một cách hiểu sai bằng câu hỏi ngược.
Khẩu ngữ Nam Bộ nêu nhận xét hay phỏng đoán dựa vô dáng vẻ, dấu hiệu thấy được, gần nghĩa có vẻ, xem ra, trông như.
Sổ ruộng đất của làng hay của tỉnh thời trước, ghi từng khoảnh đất với diện tích, loại đất, ranh giới và tên người chủ.
Là làm ra cái dáng bên ngoài khác với trong bụng, để người khác tin theo cái dáng đó.
Giả vờ, làm ra vẻ như đang ở một trạng thái hay như biết, không biết điều gì (làm bộ ngủ, làm bộ không biết); cũng chỉ thói làm cao, làm điệu, ra vẻ ngần ngại cho người ta nài, như khéo làm bộ, làm bộ làm tịch.
Cách nói Nam Bộ nghĩa là đi bộ, đi bằng chân, thường gợi quãng đường không ngắn hay công sức bỏ ra.
Phía bên trong của một nhà, một nhóm, một sở làm; chuyện chỉ người ở trong đó với nhau mới biết, mới dự.
Hòn núi nhỏ đắp bằng đá, đặt giữa hồ nước trong sân hay trong vườn, có trồng cây kiểng, gắn nhà cửa chùa chiền nho nhỏ để ngắm.
Đi bộ thong thả, không vội, thường là đi chơi hay đi một quãng gần.
Đi bộ thong thả qua lại cho khỏe hay cho khuây, không nhằm tới đâu.
Dáng vẻ bề ngoài của một người lúc đó, lộ ra ở nét mặt, tay chân, cử chỉ; coi đó mà đoán được trong bụng người đó ra sao.
Người đi đường, nhứt là người đi bộ hay khách đi xa.
Đồ dùng bằng ván gỗ dày, mặt rộng, kê trên chân hay mễ, để ngồi, nằm nghỉ, dọn mâm cơm hay tiếp khách trong nhà; gần với phản, bộ ván.
Một phần rời của cái toàn, ráp lại thì thành cái toàn đó.
Là cái dáng bên ngoài của một người, gồm cả nét mặt và cách đi đứng, tức cái mà người khác nhìn vô là đoán ra.
Cách một người cử động tay chân, đầu mình và giữ dáng đi đứng, nhìn vô thì biết người đó ra sao, muốn tỏ ý gì.
Lối nói cũ trong văn Nam Bộ: có tên trong sổ bộ điền thổ, tức đứng tên chủ ruộng đất, nhà cửa (đứng bộ năm mẫu điền); đứng bộ giùm là đứng tên thay người chủ thiệt.
Trở nên khá hơn, giỏi hơn, hay hơn trước; cũng là sự đi lên như vậy.
Dáng vẻ bề ngoài của một người, gồm hình vóc, mặt mày, cử chỉ, như bộ tướng mạnh mẽ, bộ tướng oai nghiêm; trong văn sử, chữ 部將 là viên tướng dưới quyền một chủ tướng.
Đường đi trên đất liền, bằng chưn hay bằng xe, khác với đường thủy đi ghe xuồng và đường biển.
Là bộ áo quần rộng nhẹ mặc trong nhà cho thong thả, thường bằng lụa trắng, nên nó là thứ người ta thay ra khi vừa về tới.
Là bộ áo quần kiểu Tây, và trong truyện nó luôn kể rõ màu với thứ vải, vì mặc nó là một dấu của bực người.
Người cầm đầu một nhóm dân sống và làm ăn chung thời mới khẩn hoang, kể ngang với cai trại, đầu nậu.
Bộ ván làm bằng gỗ cây gõ, món đồ gỗ dày, bóng, quý trong nhà Nam Bộ xưa, dùng để ngồi, nằm, tiếp khách, ăn uống.