Âm: thủ
Bính âm (Pinyin): shǒu
Cái đầu dẫn dắt, đứng đầu muôn người.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Bộ thứ 185 trong 214 bộ thủ Khang Hy (9 nét): Cái đầu dẫn dắt, đứng đầu muôn người.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Bộ thủ (首): Cái đầu dẫn dắt, đứng đầu muôn người.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 首 (37)
Thú dữ ở rừng núi, có thể vồ, cắn, làm hại người và các con vật khác.
Giữ chặt chỗ mình đang đứng hay điều mình đã chọn, nhứt định không lui, không nhường.
Lạ mà vui, mà hay, làm người ta thích thú, mê theo.
Hay, làm cho người ta ham nghe, ham coi, thấy vui thích; cũng là cái hay, cái vui đó.
Thành lớn nhứt của một nước, chỗ đặt việc nước, và rộng ra là thành đứng đầu một miền.
Là loài thú ăn thịt người được, cọp beo sấu rắn, và là mối nguy đứng đầu trong đời người khẩn hoang Nam Bộ.
Là người dưới tay một người có thế, nên nó luôn cần nói của ai, và nó đếm bằng tiếng tên hoặc tiếng bọn.
Có cái vui riêng mà người biết thưởng mới thấy; và cái vui đó.
Tự mình nhận ra và nói ra điều mình vẫn giấu hay chưa chịu nhìn nhận, như lỗi của mình hay lòng thiệt của mình.
Giữ gìn, giữ lấy cho khỏi mất, khỏi đổi: giữ nếp ăn ở, giữ đất nước, giữ ý của mình.
Chim và thú, tức loài vật nói chung, hay đem ra so với con người.
Người giỏi hơn người trong một môn chơi, môn đấu, ít ai thắng nổi.
Người chơi banh trong một đội, ra sân tranh tài với đội khác.
Siêng năng, để hết lòng vô việc làm ăn, lo cho nhà cửa, không ham chơi lêu lổng.
Người hay phía đứng ra tranh đua, đấu sức hay chống lại mình.
Tờ giấy làm cho cuộc hôn nhân thành ra có trước pháp luật.
Giữ thế phòng bị, sẵn sàng đỡ hay đánh trả khi có người hay thú tấn công; nói rộng là đề phòng.
Nhận thiệt ra cái tội hay cái lỗi mình đã làm, với người bị hại, với cha mẹ hay với nhà chức trách.
Những bước giấy tờ hay lễ lệ phải làm theo cho đúng lệ trước khi xong một việc.
Loài vật, con thú nói chung; nói bóng là cái gì hạ đẳng, chỉ theo bản năng, không có tình người.
Cái làm cho người ta vui, cái vui mình tìm mà hưởng.
Vui vẻ, thích thú trong lòng; cũng dùng như động từ chỉ việc hưởng một niềm vui, như vui thú gia đình.
Đủ loài thú; thường nói vườn bách thú, là vườn lớn nuôi đủ thứ chim, thú cho người ta vô coi.
Kẻ đứng bên kia mà mình phải chống, phải hơn cho được trong một cuộc đấu, cuộc đua hay cuộc giành giựt.
Sự ham thích, cái vui trong lòng làm mình muốn làm hay muốn theo một việc gì.
Cách làm khôn khéo để đạt ý mình, thường là cách không ngay.
Nhận cái điều mình muốn giấu, và cái khó nằm ở chỗ nó hạ mình xuống.
Người gây ra việc xấu, người chính tay làm ra cái tội đó.
Giữ đúng cái phận của mình, bằng lòng với chỗ đứng của mình mà không đòi hỏi hay vượt qua.
Nói ra cái thiệt mà mình đã giữ kín, dầu nói ra thì mình chịu kém thế.
Nói về người đàn bà giữ lòng chung thủy với chồng, dầu chồng đi xa hay chồng đã mất, không lấy chồng khác.
Vui vì hạp với mình, và ở Nam Bộ người ta NGHE thích thú chớ không thấy.
Là nói ra cái mình đã giấu, có khi là cái lỗi, có khi là cái ý kín, nên nói ra rồi là nhẹ lòng.
Ráng dùng cho hết khoảng thời giờ đang có, làm liền cho kịp, không để phí.
Xài mưu mẹo, mánh khóe để đạt cho được điều mình muốn, thường là cách không ngay thẳng.
Vườn bách thú là danh từ chỉ sở thú, nơi được tổ chức để nuôi, chăm sóc và giới thiệu nhiều loài động vật, có thể phục vụ bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục và tham quan tùy cơ sở. Bách thú là yếu tố Hán Việt 百獸, nghĩa đen trăm loài thú và dùng rộng cho muôn thú; toàn cụm tiếng Việt ghép vườn với bách thú, nên tab chữ chỉ ghi phần 百獸 chớ không dựng chữ Hán cho toàn đầu mục. Trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đặt tại Sài Gòn, vườn bách thú thường là nơi trẻ em đi coi chim, voi, cọp và cây cối, phù hợp với cơ sở nay mang tên Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Tuy vậy, từ chung nầy có thể chỉ sở thú ở bất cứ nơi nào; muốn xác định địa điểm phải dựa vô tên riêng và bối cảnh. Không nhập vườn bách thú với vườn bách thảo chỉ chuyên về cây, sinh cảnh hoang dã hoặc khu bảo tồn. Tên gọi cũng không tự chứng minh tiêu chuẩn chăm sóc, phúc lợi động vật, số loài, giá vé hay chất lượng một cơ sở.
Bằng lòng với phận mình, giữ nếp sống thường ngày, không đua chen, không mong cao hơn.