Nghĩa của “bộ coi” là gì?
Lối nói Nam Bộ cũ: bộ là dáng vẻ, coi là trông, nên bộ coi đi với tính từ hay lời tả phía sau để tả người đó trông ra sao, như bộ coi buồn lắm, bộ coi gọn gàng lắm.
Tiếng Anh: An older Southern way of describing how someone looks: bo is the bearing and coi is to look, so bo coi followed by an adjective or comparison means looking or seeming a certain way.
Các nét nghĩa và giải thích chi tiết của “bộ coi”:
1 nét nghĩa🇻🇳 Bộ là dáng vẻ bề ngoài, coi là trông: bộ coi đặt trước tính từ hay lời so sánh để nói người đó trông ra sao theo mắt người thấy, như bộ coi buồn lắm, bộ coi thân thiết lắm, bộ coi gọn gàng lắm. Khác với coi bộ đứng đầu câu là lời đoán.
🇬🇧 Bo is outward bearing and coi is to look: bo coi comes before an adjective or comparison to say how someone looks to an observer, as in looking very sad, looking very friendly or looking very trim. It differs from coi bo at the head of a clause, which is a guess.
Thí dụ:
Ông Hội đồng day mặt ra phía ngoài không nói chi hết, bộ coi buồn hiu.
The councillor turned his face away and said nothing, looking forlorn.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Một đời tài sắcNàng liếc mắt dòm cha, rồi lại ngó ra trước cửa, bộ coi lơ lửng dường như trông ai đợi ai.
She glanced at her father, then looked out at the door, seeming distracted, as if waiting for someone.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùaAnh ta ngồi khoanh tay mà thở dài, bộ coi thảm thiết lắm.
He sat with folded arms, sighing, looking utterly miserable.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nam cực tinh huyCó hai vợ chồng của ông Hội đồng Thành phố vô, gặp cô hai Phục thì chào hỏi mừng rỡ, bộ coi thân thiết lắm.
The city councillor and his wife came in, and on meeting Phuc they greeted her warmly, looking very close to her.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nợ đờiHai người thấy bà Chủ Khanh sập dù bước vào cửa, không biết là ai nên lồm cồm ngồi dậy tiếp chào mà bộ coi bợ ngợ lắm.
The two saw Mrs Chu Khanh fold her umbrella and step through the door; not knowing who she was, they scrambled up to greet her, looking very awkward.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Con nhà nghèoÔng sửa chậu nầy rồi ông sang qua chậu kia, ông hớt lá cắt nhánh rồi ông đứng mà ngắm, bộ coi thung dung nhàn lạc lắm.
He tended one pot and then moved on to the next, trimming leaves and cutting branches, then stood back to admire them, looking entirely at ease.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Đoá hoa tànXuân Hoa lặng thinh bộ coi buồn lắm.
Xuan Hoa said nothing and looked very sad.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Một chữ tìnhĐến bữa chúa nhựt, mới tảng sáng thì Phúc đã thay y phục rồi, mặc quần kaki vằn, mặc áo sơ mi cũng kaki, chơn mang giày cao su xám, bộ coi gọn gàng lắm.
On Sunday, at the first light of dawn, Phuc had already changed, in striped khaki trousers, a khaki shirt as well and grey rubber shoes, looking very trim.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ái tình miếuAnh ta ngồi lặng thinh ngó xuống đất, bộ coi suy nghĩ lắm.
He sat in silence looking at the ground, seeming deep in thought.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Nhơn tình ấm lạnhChàng nói giọng nghe hết thần, bộ coi rủn chí.
He spoke in a lifeless voice, looking utterly disheartened.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Vì nghĩa vì tìnhTiếng nầy được dùng ra sao trong tác phẩm
“Quan Phủ Lê Xuân Thới tuổi mới vừa bốn mươi bốn mà vì ông nầy có bịnh hút nên hình vóc gầy mòn, nước da huỳnh đản, bộ coi như người già năm mươi lăm tuổi.”“Bây giờ sắc mặt chàng xanh dờn, và bộ coi mệt nên thở lung lắm.”“Người trai đứng ngó dáo dác, bộ coi ngại ngùng lắm.”“Triều thủng thẳng đứng dậy, bộ coi rất nghiêm nghị, mắt ngó tấm thêu trên bàn rồi nói lớn.”Câu hỏi thường gặp về “bộ coi”
“bộ coi” nghĩa là gì?
Lối nói Nam Bộ cũ: bộ là dáng vẻ, coi là trông, nên bộ coi đi với tính từ hay lời tả phía sau để tả người đó trông ra sao, như bộ coi buồn lắm, bộ coi gọn gàng lắm.
“bộ coi” được dùng trong câu như thế nào?
Một câu trong Ai làm được của Hồ Biểu Chánh: “Quan Phủ Lê Xuân Thới tuổi mới vừa bốn mươi bốn mà vì ông nầy có bịnh hút nên hình vóc gầy mòn, nước da huỳnh đản, bộ coi như người già năm mươi lăm tuổi.”
Tiêu chuẩn thẩm định ngữ liệu tại VietLayers
Mức đối chiếu của mục từ được ghi ở đầu trang. Dẫn chứng có tên tác giả và tác phẩm được trình bày riêng với thí dụ biên soạn. Dẫn chứng về cách dùng không tự xác nhận nguồn gốc của từ. Phần chưa đủ căn cứ cần được đối chiếu thêm.