Âm: can
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 干 chồng lên, 丷 chồng lên. Chữ nầy xếp vào bộ can 干, nghĩa là khiên, can dự.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 干 chồng lên, 丷 chồng lên. Chữ nầy xếp vào bộ can 干, nghĩa là khiên, can dự.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 平 (40)
Là cái đưa ra để chứng một điều, tức là lối Nam Bộ của chữ bằng chứng, và cụm bằng cớ là mở ra cái chứng liền sau đó.
Điều hay vật đưa ra để cho thấy một chuyện là có thiệt, là đúng.
Không có gì xảy ra, người và nhà đều yên, trong bụng cũng yên.
Đơn sơ, mộc mạc, không màu mè, không làm ra vẻ; gần với đời thường của người ta.
Tờ giấy nhà trường hay nhà nước phát cho người đã học xong, đã thi đậu một bậc học.
Bạn bè, người quen thân cùng chơi với nhau; cũng chỉ cái tình, cái đạo giữa bạn bè.
Trong lòng không yên vì thấy chuyện trái lẽ, tức mà không phải tức riêng cho mình.
Bình bát là cây nhỏ mọc ven mương, bờ đìa nơi đất ẩm ở Nam Bộ; cũng chỉ cái bát của nhà sư mang theo khi đi khất thực.
Tiếng Hán Việt: người dân thường, không thuộc giới quyền quý, giàu sang (giới bình dân, hạng bình dân); tính từ là giản dị, dễ gần, giá rẻ, hợp với số đông (quán bình dân, món bình dân); nói văn, ca nhạc thì là của đại chúng, dân gian.
Giữ lòng cho yên, không để rối, không để nóng nảy, đặng suy nghĩ cho chín.
Chiếc bình dùng pha, đựng và rót trà (bưng bình trà, xách bình trà); lấy vật chứa gọi phần chứa, bình trà còn là một bình trà đã pha (chế bình trà, uống hết một bình trà).
Êm không có chuyện gì xảy ra, người không hề hấn gì; cũng là cái êm trong lòng.
Là nhà nước ra giấy cho ai đó được giữ một chức, một nghề, hay được giữ một miếng đất, và cũng là chính tấm văn bằng chứng người đó đã học xong.
Là dùng một tiếng nào đó mà gọi người ta, nhứt là tiếng xưng hô trong nhà, vì cách gọi định luôn chỗ đứng của hai bên.
Tên Nam Bộ của cây thủy sinh nổi trôi từng giề trên sông rạch, lá xanh bông tím (bèo lục bình); và là tên chiếc bình lớn bằng sứ, gốm, dáng cao, chưng trên bàn thờ, trong nhà (cũng gọi lộc bình).
Xét một tác phẩm hoặc một việc rồi nói ra chỗ hay chỗ dở.
`San bằng` có ba nét liên quan tới việc đưa về một mặt/mức. (1) Làm bề mặt phẳng hơn bằng cách bạt chỗ cao, lấp chỗ thấp (*level, grade*). (2) Phá làm cho công trình/khu vực gần như phẳng với mặt đất (*raze, flatten*); nét nầy mạnh và phải nói rõ đối tượng. (3) Nghĩa chuyển: giảm hoặc xóa một chênh lệch có thể xác định, đưa các mức gần ngang nhau (*equalize, level out*). Không dùng san bằng như khẩu hiệu mơ hồ “dẹp hết mọi khó khăn”; không suy công trình bị phá hoàn toàn, việc làm hợp pháp, mặt đất đạt chuẩn hoặc mọi người được đối xử công bằng. Nam Bộ thường nói `ủi cho bằng`, `lấp cho bằng mặt`, `kéo mức lại cho ngang` tùy nghĩa.
Là thứ cây to cho bông tím và gỗ tốt, ở Nam Bộ còn gọi là thao lao, nên nó vừa là cái gốc người ta ngồi tựa vừa là cây đóng tủ.
Hai loại tiếng trong phép làm thơ: tiếng bằng (không dấu hay dấu huyền) và tiếng trắc (các dấu còn lại); cũng là luật sắp hai loại tiếng đó trong câu thơ.
Cái bình, thường bằng sứ, dùng để cắm bông, chưng trên bàn ăn, bàn tiệc hay trên bàn thờ.
Ngang hàng nhau, không ai trên ai dưới; coi nhau và đối đãi với nhau như nhau, không phân sang hèn, lớn nhỏ.
Một mặt, một phía mà người ta đứng đó để xét một vấn đề.
Đem một việc, một lời nói hay một bài văn ra bàn rồi nói ý mình về nó; cũng là lời nói, bài viết như vậy.
Lúc trời vừa sáng, mặt trời sắp mọc; buổi sớm tinh sương.
Xét rồi nói ra chỗ hay chỗ dở, chỗ phải chỗ quấy của một người, một việc; cũng là lời khen chê như vậy.
Mạnh lại như trước sau một cơn đau, một trận bịnh; hết bịnh, sức khỏe trở lại như cũ.
Suốt đời một người từ trước tới giờ, lúc thường ngày còn sống; nói về thói quen, tánh ý hay điều mong ước người đó vẫn có xưa nay.
Đứng thẳng người lên sau khi quì lạy; cũng là lời bề trên cho phép người đang quì đứng dậy.
Yên, không gợn sóng, hoặc giữ cho mặt không gợn dầu trong lòng đang gợn.
Lúc thường ngày, khi không có chuyện gì khác lạ xảy ra.
Cách gọi Nam Bộ của phích nước: bình có ruột giữ nhiệt để nước sôi, nước trà lâu nguội; trong văn cũ còn gặp duyên bình thủy, chữ Hán 萍水 là bèo nước, chỉ duyên gặp gỡ tình cờ.
Là giữ được lòng yên khi có việc dồn tới, nên nó không phải là không sợ mà là sợ mà vẫn giữ được, và nó cũng làm danh từ: lấy lại bình tĩnh.
Đối xử ngang nhau, ai đáng phần nào được phần nấy, không binh bên nầy mà ép bên kia.
Là xử cho đều, không bên nặng bên nhẹ, viết theo lối phát âm Nam Bộ đọc bằng thành bình.
Dạng Nam Bộ của lềnh bềnh: nổi và trôi lững lờ trên mặt nước; nói về nước thì là nước đứng lững lờ, lớn ròng cũng như nhau.
`San phẳng` là làm cho một bề mặt hết hoặc bớt lồi lõm, trở nên phẳng hơn (*level, flatten*); trong ngữ cảnh phá hủy, từ này có thể chỉ làm công trình hoặc khu vực gần phẳng với mặt đất (*raze*). Khác nghĩa chuyển rộng của `san bằng`, san phẳng chủ yếu nhấn kết quả hình thể nhìn thấy. Từ không tự cho biết cao độ, độ chặt, độ nhẵn, an toàn, mức phá hủy hoàn toàn hay tính hợp pháp. Tiếng Sài Gòn và Nam Bộ thường nói `ủi cho bằng`, `cào cho phẳng`, `lấp chỗ trũng cho bằng mặt`.
Yên ổn khắp nơi, không có giặc giã, loạn lạc; cũng chỉ thời buổi yên ổn như vậy.
Là cái đưa ra để chứng một điều, cùng nghĩa với bằng cớ, và trong kho văn Nam Bộ cả hai lối đều dùng nên đây là một cặp thay nhau được.
Tiếng mở đầu một điều thấy được, đem ra để chứng minh cho lời vừa nói là đúng.
Phẳng đều, không lồi lõm hay dốc; theo lối bóng là êm đều, không có gì xảy ra.