Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 婁 bên trái, 攵 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ phộc 攴, nghĩa là đánh khẽ.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 婁 bên trái, 攵 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ phộc 攴, nghĩa là đánh khẽ.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 數 (24)
Con số chưa biết, phải tìm ra, trong một bài toán; cũng nói điều còn chưa rõ trong một chuyện rắc rối.
Là phần đông trong một đám, hơn phân nửa, nên nói đa số là đang so cái phần lớn với cái phần nhỏ còn lại.
Nhiều lắm, nhiều tới mức đếm không xuể.
Cuộc bán vé có in số rồi rút ra số trúng để trao giải; cũng nói việc mở số đó.
Dãy số tăng lên hay giảm xuống theo một mức đều; lời thường mượn để nói một thứ lớn mau hay hao mau.
Là một ki lô mét, tên gọi theo cây cột cắm bên đường có ghi số, nên nó là chữ đo đường của dân Nam Bộ.
Môn toán dùng chữ cái thay cho con số để tính, để tìm ra con số chưa biết.
Số người ở trong một xóm, một tỉnh, một nước.
`Sai số` là danh từ kỹ thuật chỉ độ chênh giữa giá trị đo, ước lượng hay tính được với giá trị tham chiếu tương ứng (*error*); trong thống kê, từ còn gọi các đại lượng sai khác được định nghĩa theo phương pháp như `sai số chọn mẫu`, `sai số chuẩn`. Công thức, dấu và đơn vị phụ thuộc ngành: trong đo lường, sai số đo được định nghĩa bằng giá trị đo trừ giá trị tham chiếu, không phải lúc nào cũng biết được một `giá trị đúng` tuyệt đối. `Sai số` không đồng nghĩa `độ không đảm bảo đo`: một đại lượng mô tả chênh lệch, đại lượng kia mô tả độ phân tán/hoài nghi gắn với kết quả theo mô hình đo. Từ cũng không tự nói thiết bị hỏng, người làm cẩu thả, dữ liệu gian lận, kết quả vô dụng hay nằm trong giới hạn cho phép. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `lệch bao nhiêu`, `chênh mấy đơn vị`, `đo dư/thiếu` thường dễ hiểu trong hội thoại, nhưng báo cáo kỹ thuật phải nêu định nghĩa. Phân biệt `sai số` với `sai sót` là lỗi thao tác/nội dung, và với `độ chính xác` là khái niệm khác. Mặt chữ Hán Việt `差數` được ghi cho toàn từ.
Môn toán dạy về các con số và những phép tính cộng, trừ, nhân, chia.
Số phận, vận số của một người theo quan niệm trời định (tại mạng số, mạng số vắn vỏi, coi mạng số); mạng là cách đọc Nam Bộ của mệnh 命, số là 數.
Hạng nhứt, hết chỗ chê; cũng dùng để nhấn mạnh một tánh nết tới mức cao nhứt.
Là cái phần trời đã định cho một đời người, thứ mà người ta viện ra khi chuyện xảy tới không ai gỡ được.
Phần đời đã định cho một người, cái người ta phải chịu chớ không chọn được.
Mua vé số mà nhằm đúng con số được thưởng; trong câu ví, mừng như trúng số là gặp cái may lớn bất ngờ, mừng quá sức.
Phần đông hơn hết, gần như hết thảy trong một đám người hay một nhóm.
Tên gọi đầy đủ của môn toán dùng chữ cái thay cho con số chưa biết để tính ra nó.
Là giải cao nhứt của cuộc xổ số, và trong truyện Nam Bộ cụm mừng như trúng số độc đắc là lối so quen để tả cái vui bất ngờ.
Cách nói xưa của người Nam chỉ một ki lô mét, tức một ngàn thước, dùng để đo đường xa hay bề dài một vùng đất.
Do mạng số mà ra, do trời định; lối đảo chữ của tại số mạng, đổ nguyên do một chuyện rủi cho phần số của người ta.
Do số mạng mà ra, do trời định; lối nói đổ nguyên do một chuyện may rủi cho phần số của người ta.
Đành nhận lấy cái cảnh mình gặp, không chống lại, không than van, vì thấy không làm gì khác hơn được.
Nhiều không biết bao nhiêu mà kể, nhiều tới mức đếm không xuể.
Trúng giải lớn nhứt của một kỳ xổ số; nói ví thì là gặp một vận may lớn bất ngờ, mừng hết sức.