Âm: dương
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 羊 phủ góc trên trái, 工 ở trong. Chữ nầy xếp vào bộ công 工, nghĩa là thợ, việc.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 羊 phủ góc trên trái, 工 ở trong. Chữ nầy xếp vào bộ công 工, nghĩa là thợ, việc.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 差 (13)
Không đúng với sự thiệt, lẽ phải hay điều phải làm (đoán sai, nói sai); bảo, phái người dưới làm một việc (sai người đi, sai trẻ); nói cây ra nhiều trái (sai trái), và trong lời cũ, người sinh nhiều con (sai con).
Biểu một người dưới quyền, người ở hay đứa nhỏ rời chỗ mà đi làm một việc gì cho mình, như đi mua, đi mời, đi kêu.
`Sai số` là danh từ kỹ thuật chỉ độ chênh giữa giá trị đo, ước lượng hay tính được với giá trị tham chiếu tương ứng (*error*); trong thống kê, từ còn gọi các đại lượng sai khác được định nghĩa theo phương pháp như `sai số chọn mẫu`, `sai số chuẩn`. Công thức, dấu và đơn vị phụ thuộc ngành: trong đo lường, sai số đo được định nghĩa bằng giá trị đo trừ giá trị tham chiếu, không phải lúc nào cũng biết được một `giá trị đúng` tuyệt đối. `Sai số` không đồng nghĩa `độ không đảm bảo đo`: một đại lượng mô tả chênh lệch, đại lượng kia mô tả độ phân tán/hoài nghi gắn với kết quả theo mô hình đo. Từ cũng không tự nói thiết bị hỏng, người làm cẩu thả, dữ liệu gian lận, kết quả vô dụng hay nằm trong giới hạn cho phép. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `lệch bao nhiêu`, `chênh mấy đơn vị`, `đo dư/thiếu` thường dễ hiểu trong hội thoại, nhưng báo cáo kỹ thuật phải nêu định nghĩa. Phân biệt `sai số` với `sai sót` là lỗi thao tác/nội dung, và với `độ chính xác` là khái niệm khác. Mặt chữ Hán Việt `差數` được ghi cho toàn từ.
`Sai lạc` là không đúng hoặc chệch khỏi sự thiệt, lẽ phải, đường hướng hay mạch nhận thức đang xét (*incorrect, misguided, distorted*). Từ thường đi với `thông tin`, `nhận thức`, `quan điểm`, `lập luận`, `đường hướng`; khi có động từ `làm`, cụm `làm sai lạc` nghĩa là làm cho nội dung hoặc nhận thức bị chệch. Một điều sai lạc có thể chỉ sai một phần hoặc do hiểu nhầm; bản thân từ không chứng minh người tạo ra nó cố ý lừa dối, có ác ý, gây hại hay toàn bộ nội dung đều giả. Trong lời nói Sài Gòn và Nam Bộ, có thể nói `hiểu trật`, `nói trật`, `lạc hướng`, `bị méo đi` tùy đối tượng. Phân biệt `sai lạc` với `sai lệch` thường dùng khi chênh khỏi mốc/chuẩn hay số liệu, `lầm lạc` dễ gợi đi vô đường sai về tư tưởng/đạo lý, và `thất lạc` là mất dấu. Tab Hán Nôm để trống vì nguồn hiện có xác nhận nghĩa toàn cụm nhưng chưa đủ để gắn một mặt chữ lịch sử trực tiếp cho đúng đơn vị tiếng Việt nầy.
Điều nghĩ trật, làm trật (phạm một sai lầm, sự sai lầm); còn là tính chất không đúng của một ý nghĩ, một việc làm (quan niệm sai lầm, hành động sai lầm, dễ sai lầm).
`Sai lời` là không giữ đúng lời đã hứa, đã nhận hoặc đã nói sẽ làm (*break one's word, fail to keep a promise*). Đối tượng thường là một lời hứa, lời giao ước hoặc cam kết trong quan hệ đời thường; nội dung, thời hạn và điều kiện phải được xác định từ văn cảnh. Chỉ việc kết quả khác dự kiến chưa đủ gọi là `sai lời` nếu người nói không hứa; ngược lại, một lần trễ hẹn cũng chưa tự chứng minh cố ý lừa dối, phản bội, vi phạm pháp luật hay mất tư cách. Có thể nói `không muốn sai lời`, `đã sai lời với ai`, `mang tiếng sai lời`. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ hiện nay, `thất hứa`, `không giữ lời`, `hứa rồi không làm`, `nói mà không làm` thường tự nhiên và rõ hơn. Phân biệt `sai lời` với `nói sai` là nói điều không đúng, `lỡ lời` là buột miệng nói điều không nên, và `sai hẹn` là không đúng cuộc hẹn hoặc thời điểm đã hẹn. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.
`Sai sót` là lỗi, điểm chưa đúng hoặc chi tiết bị bỏ lọt trong công việc, văn bản, quy trình hay hành động (*mistake, error, oversight, omission*). Từ thường gợi lỗi trong lúc thực hiện hoặc kiểm soát và đôi khi được dùng giảm nhẹ hơn `sai lầm`, nhưng bản thân nó không bảo đảm lỗi nhỏ, vô ý, không gây hậu quả hoặc dễ sửa. Có thể nói `có một vài sai sót`, `phát hiện/khắc phục sai sót`, `sai sót trong khâu nhập liệu`; muốn xác định ai chịu trách nhiệm, vi phạm gì hay thiệt hại bao nhiêu phải có điều tra và tiêu chuẩn riêng. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `bị sót`, `làm thiếu`, `ghi trật`, `có chỗ chưa đúng` thường tự nhiên theo từng lỗi. Phân biệt `sai sót` với `sai số` là đại lượng kỹ thuật, `sơ suất` nhấn thiếu chú ý, `nhầm lẫn` nhấn lẫn cái nầy với cái kia, và `sai lầm` rộng hơn ở phán đoán/quyết định. Không nên gọi lỗi nghiêm trọng là `chỉ có chút sai sót` để giảm nhẹ khi chưa đánh giá. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.
Biểu đứa ở, người giúp việc trong nhà đi làm một việc gì cho chủ, như đi mời người, đi mua đồ, dọn ghế.
`Sai vặt` là sai một người làm hết việc nhỏ nầy tới việc lặt vặt khác, thường không quan trọng hoặc ngoài vai trò chính (*send on errands, order about, boss around*). Từ thường mang sắc thái chê cách đối xử trên và dưới, nhứt là khi người bị sai không được tôn trọng; nhưng bản thân cụm chưa đủ chứng minh bóc lột, vi phạm hợp đồng, cưỡng ép, bạo hành hay người kia không đồng ý. Việc phân chia việc nhà công bằng, giao nhiệm vụ rõ ràng hoặc nhờ một việc nhỏ không tự là `sai vặt`; tần suất, thái độ, quyền từ chối và hoàn cảnh quyết định. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ có thể nói `biểu làm hết chuyện này tới chuyện kia`, `bị kêu chạy tới chạy lui`, `sai tới sai lui`. Phân biệt `sai vặt` với `việc vặt` là bản thân công việc nhỏ, `chạy vặt` là đi làm các việc lặt vặt, và `sai khiến` không bắt buộc nhiều việc nhỏ. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.
`Sai biệt` là từ Hán Việt `差別`, chỉ sự khác nhau, chỗ khác nhau hoặc tình trạng được phân biệt (*difference, distinction, differentiation*). Đây là từ trang trọng, thường gặp trong văn học thuật, triết học, Phật học hoặc bản dịch; trong hội thoại Sài Gòn và Nam Bộ hiện nay, `khác nhau`, `chỗ khác`, `khác biệt` thường tự nhiên hơn. `Sai` trong toàn từ mang nghĩa chênh khác, không phải cứ `sai biệt` là một điều sai trái. Mức độ khác lớn hay nhỏ phải được câu nêu; từ cũng không tự mang nghĩa phân biệt đối xử, bất bình đẳng hoặc kỳ thị nếu văn cảnh không nói tới cách đối xử. Có thể dùng như danh từ trong `có sự sai biệt giữa A và B` hoặc làm phần vị ngữ trong lối văn trang trọng `hai cách hiểu sai biệt`. Phân biệt `sai biệt` với `sai bét` khẩu ngữ nghĩa sai hoàn toàn, và với `sai lệch` thiên về chệch khỏi một chuẩn hay mốc.
`Sai phái` là từ Hán Việt `差派`, nay mang sắc thái cũ hoặc lịch sử, nghĩa là ra lệnh hay cử người dưới quyền đi lo một công việc (*dispatch, send on assignment, order to undertake a task*). Từ thường gặp trong văn kể về quan lại, người hầu, phu phen hoặc cơ cấu có thứ bậc; hiện nay `cử đi`, `phái đi`, `điều động`, `giao nhiệm vụ` thường phù hợp hơn trong hành chính và nơi làm việc. Từ không tự chứng minh mệnh lệnh hợp pháp, người được cử có chuyên môn, đã đồng ý, được trả công, bị cưỡng bức hay nhiệm vụ đã hoàn thành. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, có thể nói `biểu đi lo việc`, `bảo đi làm`, `cử đi công tác` tùy quan hệ, nhưng không nên dùng `sai phái` như màu mè cho mọi lần nhờ giúp. Phân biệt `sai phái` với danh từ `phái` là phe/nhóm, `sai khiến` có phạm vi rộng hơn và có nghĩa chuyển chi phối, còn `công phái` là một đơn vị khác. Mặt chữ `差派` chỉ áp dụng đúng từ nầy.
Bảo, ra lệnh cho người khác làm việc theo ý mình (sai khiến tôi tớ); nghĩa chuyển là bản năng, tiềm thức, định kiến chi phối khiến người ta hành động.
Biểu mấy đứa ở, mấy người làm trẻ tuổi trong nhà đi làm một việc, như đi mời khách, đi chợ, đi kiếm người.