Phần đời đã định cho một người, cái người ta phải chịu chớ không chọn được.
Tiếng Anh: The lot allotted to a person, what must be borne rather than chosen.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Phần đời đã định cho một người, cái người ta phải chịu chớ không chọn được.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Phần đời đã định cho một người. Trong kho văn Nam Bộ nó hầu như luôn đi với ba chữ: chịu, lo, và thương. Người ta chịu số phận, lo cho số phận của người khác, hoặc khóc số phận mình. Cái đáng để ý là nó ít khi dùng cho việc lành: hễ chữ nầy hiện ra thì câu đang nói tới một chuyện không may. Nó cũng dùng cho món đồ, cho cái quán, nói lối chơi.
🇬🇧 The portion of life allotted to a person. In the Southern corpus it goes almost always with three things: bearing it, worrying over somebody else's, and weeping over one's own. What is worth noticing is how rarely it serves a happy turn: where the word appears, the sentence is speaking of misfortune. It is also used playfully of an object or a shop.
Thí dụ:
Thì ra bà Hai khóc vì tiếc tiền chớ không phải vì lo cho số phận của chồng bà.
So the old woman was weeping over the money and not over what would become of her husband.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Quán Tai HeoBiết số phận mình, Thái đứng nép vào tường để tránh sự chen lấn của thiên hạ.
Knowing what his lot was, Thai pressed himself against the wall to keep out of the crowd's way.
Nguồn: Thẩm Thệ Hà, Gió Biên ThùyAnh nhẫn nại chịu số phận, nằm đó mà lắng nghe thêm sự rờn rợn rất dễ ưa ấy.
He bore his lot patiently, lying there and listening for more of that shiver he found so pleasant.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Sau Đêm Bố RápSực nhớ lại mình, không biết kể từ hôm nay số phận tôi sẽ được định đoạt ra sao.
Remembering myself with a start, I did not know how my lot would be settled from this day on.
Nguồn: Kim Nhật, Bóng Tối Đi Qua IAnh ta khổ quá, chỉ biết thở vắn than dài buồn cho số phận chớ biết làm sao.
The man was in such trouble that all he could do was sigh and grieve at his lot.
Nguồn: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích CủThì tại làm sao bắt nó chịu số phận của một người không may đẻ vào năm Dần?
Then why should she be made to bear the lot of a person unlucky enough to be born in the year of the tiger.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Ký ThácNàng chỉ khóc thôi, khóc số phận mình mà chỗ tới thật là bấp-bênh mờ-mịt.
She only wept, wept over a lot whose end was truly uncertain and dim.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Gieo Gió Gặt BãoKhuyết điểm thứ nhì nầy là khuyết điểm quyết định số phận của quán Zanzi.
This second failing was the failing that settled what became of the little shop.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Trâm Nhớ Ngàn ThươngNhưng kẻ gặp rủi chỉ biết hận cho số phận mình chớ không hận được ai cả.
But a man who meets with bad luck can only resent his lot, he cannot resent anybody.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc, Uống Lộn Thuốc TiênRồi anh ta quay sang nhìn con Ba gượng cười, nhún vai như có vẻ cam đành với số phận.
Then he turned to look at the girl, smiled with an effort, and shrugged as though resigned to his lot.
Nguồn: Lê Xuyên, Chú Tư CầuTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Thì ra bà Hai khóc vì tiếc tiền chớ không phải vì lo cho số phận của chồng bà.”“Biết số phận mình, Thái đứng nép vào tường để tránh sự chen lấn của thiên hạ.”“Anh nhẫn nại chịu số phận, nằm đó mà lắng nghe thêm sự rờn rợn rất dễ ưa ấy.”“Sực nhớ lại mình, không biết kể từ hôm nay số phận tôi sẽ được định đoạt ra sao.”“Anh ta khổ quá, chỉ biết thở vắn than dài buồn cho số phận chớ biết làm sao.”“Thì tại làm sao bắt nó chịu số phận của một người không may đẻ vào năm Dần?”“Nàng chỉ khóc thôi, khóc số phận mình mà chỗ tới thật là bấp-bênh mờ-mịt.”“Khuyết điểm thứ nhì nầy là khuyết điểm quyết định số phận của quán Zanzi.”