Âm: túc
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 𧾷 bên trái, 各 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ túc 足, nghĩa là chân.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 𧾷 bên trái, 各 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ túc 足, nghĩa là chân.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 路 (23)
Chữ 路 là con đường (ra lộ, đại lộ, quốc lộ); chữ 露 là hiện ra cho thấy, bị biết tới (lộ vẻ, bị lộ, lộ thiên); còn chữ 賂 trong hối lộ là của đút lót.
Để cho cái đang giấu hiện ra ngoài, người khác thấy được.
Con đường lớn có trải đá cho xe chạy, nối chợ nầy với chợ kia ở miền quê Nam Bộ thời trước.
Con đường lớn, rộng, cho xe chạy nhanh đi xa, nối thành phố với các tỉnh; ở Sài Gòn xưa chỉ con đường lớn đi Biên Hòa.
Nói chuyện đang giấu, mưu đang tính kín bị người ta biết ra, không còn giấu được nữa.
Để cho cái ở trong lòng hiện ra ngoài, qua lời nói, nét mặt hay việc làm.
Từ Hán Việt 甘露, mặt chữ là sương ngọt, gốc từ Phật học chỉ nước thiêng; trong văn chương dùng ví thứ nước ngọt lành, hay lời nói, tình thương làm dịu mát lòng người.
Con đường lớn của một thành phố, rộng hơn đường thường.
Đưa tiền hay đưa của cho người có quyền đặng họ làm lợi cho mình.
Tiếng Hán Việt quen trong văn Nam Bộ cũ: để một cảm xúc, thái độ hiện ra trên nét mặt, như lộ sắc mừng, lộ sắc buồn, lộ sắc giận, lộ sắc bất bình.
Bị lòi ra điều mình cố giấu hay đang giả bộ, làm người ta biết được sự thiệt.
Phí lộ là tiền đi đường, dạng cũ Nam Bộ của lộ phí; câu quen là đưa tiền làm phí lộ.
Nói ra cho người khác biết điều thầm kín trong lòng; cũng dùng như danh từ chỉ lời tâm sự đó.
Nói ra cho người khác biết điều mình vẫn giữ kín trong lòng.
Là để cho cái ở trong lòng hiện ra ngoài, thường là qua giọng nói, qua đôi mắt hoặc qua một cử chỉ.
Quốc lộ (chữ Hán 國路) là con đường bộ lớn thuộc cấp quốc gia quản lý, nối các tỉnh, thành với nhau, như quốc lộ Sài Gòn Bình Dương.
Là để lọt ra một điều đáng lẽ phải giữ kín, dầu là cố ý nói ra hay lỡ miệng mà ra.
Để trống ở trên, không có mái che, nhìn thẳng lên trời.
Con đường phải đi từ nơi nầy tới nơi kia; cũng là một chặng trên đường đi xa.
Cách nói quen ở Nam Bộ: ở ngoài đường, trên con đường chạy ngang phía trước nhà, sân hay ngõ, như đứng ngoài lộ, xe đậu ngoài lộ, ngó ra ngoài lộ.
Để nỗi buồn hiện ra trên nét mặt, cho người khác nhìn thấy mình đang buồn.
Đứng ở ngoài đường lộ, trước nhà, trước quán hay trước khu đất của người ta, chưa bước vô, thường là để ngó vô trong.
Người tài giỏi, gan dạ mà tới lúc cùng đường, hết thời, không còn làm gì được.