Nghĩa chữ
Chữ 評 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 評 (37)
Không có gì xảy ra, người và nhà đều yên, trong bụng cũng yên.
Đơn sơ, mộc mạc, không màu mè, không làm ra vẻ; gần với đời thường của người ta.
Trong lòng không yên vì thấy chuyện trái lẽ, tức mà không phải tức riêng cho mình.
Bình bát là cây nhỏ mọc ven mương, bờ đìa nơi đất ẩm ở Nam Bộ; cũng chỉ cái bát của nhà sư mang theo khi đi khất thực.
Tiếng Hán Việt: người dân thường, không thuộc giới quyền quý, giàu sang (giới bình dân, hạng bình dân); tính từ là giản dị, dễ gần, giá rẻ, hợp với số đông (quán bình dân, món bình dân); nói văn, ca nhạc thì là của đại chúng, dân gian.
Giữ lòng cho yên, không để rối, không để nóng nảy, đặng suy nghĩ cho chín.
Chiếc bình dùng pha, đựng và rót trà (bưng bình trà, xách bình trà); lấy vật chứa gọi phần chứa, bình trà còn là một bình trà đã pha (chế bình trà, uống hết một bình trà).
Êm không có chuyện gì xảy ra, người không hề hấn gì; cũng là cái êm trong lòng.
Tên Nam Bộ của cây thủy sinh nổi trôi từng giề trên sông rạch, lá xanh bông tím (bèo lục bình); và là tên chiếc bình lớn bằng sứ, gốm, dáng cao, chưng trên bàn thờ, trong nhà (cũng gọi lộc bình).
Xét một tác phẩm hoặc một việc rồi nói ra chỗ hay chỗ dở.
Cái bình, thường bằng sứ, dùng để cắm bông, chưng trên bàn ăn, bàn tiệc hay trên bàn thờ.
Ngang hàng nhau, không ai trên ai dưới; coi nhau và đối đãi với nhau như nhau, không phân sang hèn, lớn nhỏ.
Một mặt, một phía mà người ta đứng đó để xét một vấn đề.
Đem một việc, một lời nói hay một bài văn ra bàn rồi nói ý mình về nó; cũng là lời nói, bài viết như vậy.
Lúc trời vừa sáng, mặt trời sắp mọc; buổi sớm tinh sương.
Xét rồi nói ra chỗ hay chỗ dở, chỗ phải chỗ quấy của một người, một việc; cũng là lời khen chê như vậy.
Mạnh lại như trước sau một cơn đau, một trận bịnh; hết bịnh, sức khỏe trở lại như cũ.
Suốt đời một người từ trước tới giờ, lúc thường ngày còn sống; nói về thói quen, tánh ý hay điều mong ước người đó vẫn có xưa nay.
Đứng thẳng người lên sau khi quì lạy; cũng là lời bề trên cho phép người đang quì đứng dậy.
Yên, không gợn sóng, hoặc giữ cho mặt không gợn dầu trong lòng đang gợn.
Lúc thường ngày, khi không có chuyện gì khác lạ xảy ra.
Cách gọi Nam Bộ của phích nước: bình có ruột giữ nhiệt để nước sôi, nước trà lâu nguội; trong văn cũ còn gặp duyên bình thủy, chữ Hán 萍水 là bèo nước, chỉ duyên gặp gỡ tình cờ.
Là giữ được lòng yên khi có việc dồn tới, nên nó không phải là không sợ mà là sợ mà vẫn giữ được, và nó cũng làm danh từ: lấy lại bình tĩnh.
Là xử cho đều, không bên nặng bên nhẹ, viết theo lối phát âm Nam Bộ đọc bằng thành bình.
Dạng Nam Bộ của lềnh bềnh: nổi và trôi lững lờ trên mặt nước; nói về nước thì là nước đứng lững lờ, lớn ròng cũng như nhau.
Yên ổn khắp nơi, không có giặc giã, loạn lạc; cũng chỉ thời buổi yên ổn như vậy.
Tấm chắn dựng đứng, làm bằng tre đan, mành trúc hay thứ khác, đặt trong nhà để ngăn chỗ nầy với chỗ kia và che cho khuất mắt.
Ngang nhau về phần được làm, được hưởng trong nhà và ngoài xã hội; không bên nào trên bên nào.
Yên ổn, không có loạn lạc, người người sống êm đềm.
Ở khoảng giữa, không cao không thấp, và cái mức giữa tính ra từ nhiều số.
Vùng đất bằng và thấp, trải rộng, không có đồi núi.
Bình Nhưỡng, thành phố ở phía bắc bán đảo Triều Tiên, đọc theo âm Hán Việt.
Là như mọi khi, không có gì khác, nên cụm trở lại bình thường là lối nói rằng cơn sóng gió đã qua; nó cũng làm trạng ngữ chỉ lúc thường ngày, như trong khi bình thường cô bé rất nhát.
Yên lành, không gặp chuyện rủi, chuyện xấu nào hết.
Không còn giữ được lòng yên, trí tỉnh, nên rối lên, hoảng lên hay nổi nóng mà làm bậy.
Người dân thường, không giàu sang, không chức phận, sống đời giản dị; cũng dùng để nói chung cả giới đó.
Thái Bình Dương, biển lớn nằm phía đông nước ta. Tên chữ nghĩa là biển lớn yên lặng.