Nghĩa chữ
Chữ 貫 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 貫 (34)
Chỗ nhỏ bày bàn ghế mà bán đồ ăn thức uống; theo chữ 館 còn là nhà làm chỗ nhóm họp, trọ, in hay làm báo (hội quán, lữ quán, báo quán); chữ 貫 trong quê quán là nơi gốc gác, trong quán xuyến là lo trọn mọi việc; chữ 冠 trong quán quân là người đứng đầu.
Hết thảy các ông quan trong triều, lớn nhỏ, bên văn bên võ, nói gộp lại.
Chỉ thấy mặt xấu, mặt tối của sự việc, tin rằng mọi chuyện sẽ không ra gì.
Sở hay tổ chức được lập ra để lo một việc chung, như việc cai trị trong tỉnh hay việc chỉ nghề cho dân.
Là chỗ bán cơm bán món cho khách ngồi ăn tại chỗ, nhỏ hơn nhà hàng và bình dân hơn.
Lớn chuyện, đáng kể, đáng phải lo; nói một việc có ảnh hưởng nhiều tới đời sống, quyền lợi của người ta.
Giữ một cái quán nhỏ, bán đồ ăn thức uống hay đồ lặt vặt để kiếm sống qua ngày.
Lời cũ, chữ Hán 報館: cơ quan và chỗ làm việc của một tờ báo, nơi người ta viết bài, sắp chữ, in và gởi báo đi.
Chỉ nhìn theo ý mình, cảm nghĩ của mình, mà không xét cho đúng cái thiệt bên ngoài, nên dễ lầm.
Người làm chủ một cái quán, như quán cơm, quán nước, quán nhậu, lo buôn bán và tiếp khách trong quán.
Cơm ăn tháng ở nhà người khác hay ở quán, mỗi tháng trả tiền, cho người ở một mình hay ở xa nhà khỏi phải nấu.
Nhà dùng làm chỗ tới lui, họp mặt, vui chơi của những người cùng chung một đoàn thể.
Khá, coi được, đáng mừng; cũng nói tình hình có chiều tốt lên.
Ngó việc gì cũng thấy còn đường tốt, trong lòng tin đời rồi sẽ êm.
Chỗ nhỏ bán cơm cho khách ăn tại đó, giá bình dân.
Là coi cho kỹ để biết, nên nó khác coi trơn ở chỗ coi là thấy, còn quan sát là coi có chủ ý mà rút ra điều gì.
Cái hộp bằng ván hoặc bằng đá để liệm người chết mà đem chôn.
Để lòng tới một việc hay một người, coi đó là đáng cho mình bận tâm.
Là cái làng cái xứ mình sanh ra, và trong giấy tờ thì nó là một mục phải khai, đi kèm tên họ và tuổi.
Đứng ngoài mà coi, không dính vô, coi như chuyện đó không phải chuyện của mình.
Cái trong thân thể giúp con người biết được chuyện chung quanh: mắt để thấy, tai để nghe, mũi để hửi, lưỡi để nếm, da để rờ.
Người đàn ông đã bị thiến, được dùng hầu hạ trong cung vua thời xưa.
Có dính dáng với nhau, chuyện nầy đụng tới chuyện kia, không tách rời ra được.
Chỗ đứng mà một người ngó ra việc đời, rồi từ đó mà xét mà nói.
Là cái cách nghĩ về một việc, nên nó khác ý kiến ở chỗ ý kiến là một điều còn quan niệm là cái khuôn mình dùng để xét.
Tiệm bán rượu cho khách ngồi uống, cũng là chỗ tụ tập chuyện trò.
Ở bên ngoài mình, có sẵn hay xảy ra không tùy theo ý muốn, cảm nghĩ của riêng ai.
Là đáng để tâm, có sức nặng trong một việc, và nó nói được cả việc, cả một chức, nên nó cũng làm danh từ: sự quan trọng.
Là cái quán bán cà phê để người ta ngồi, và trong truyện Sài Gòn nó là chỗ hẹn, chỗ ngồi một mình, chỗ nhớ lại một buổi chiều.
Là người đứng ra buộc tội trước tòa thời Pháp, nên nó là cái cửa dân tới mà kiện, và nó đứng cùng bộ với quan Chủ quận và ông Cò.
Quan Chánh Bố là cách gọi viên quan hành chính đứng đầu hay ở cấp cao của một tỉnh Nam Kỳ thời cũ, người ra trát, ra lịnh xuống quan Phủ và làng.
Cách một người nhìn cuộc đời, nghĩ coi sống để làm gì và phải sống ra sao.
Chức quan người Pháp đứng đầu việc cai trị một tỉnh ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc.
Tiếng gọi kính ông bác sĩ của nhà thương nhà nước thời xưa, người khám bịnh, coi mạch và cho thuốc.