Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 𠮠 bên trái, 刂 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ đao 刀, nghĩa là con dao.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 𠮠 bên trái, 刂 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ đao 刀, nghĩa là con dao.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 別 (35)
Sự chia tay xa cách, mỗi người một ngả, lòng đầy bâng khuâng luyến tiếc và không hẹn ngày tái ngộ; một khái niệm triết học nhân sinh phản ánh quy luật ly biệt ở đời.
Rời hẳn xứ mình mà đi thiệt xa, lâu không về, không ai hay tin.
Là biết rõ tới mức không cần ai nói thêm nữa, tiếng dư ở đây nghĩa là biết còn thừa ra chớ không thiếu chút nào.
Chào mà đi, và cái chào nầy trang trọng hơn chào thường vì nó có xa cách.
Đối xử riêng với một người tử tế hơn, quý hơn so với những người khác.
Tách riêng ra, đứng một mình, không liền với hay không giao thiệp với chung quanh.
Cái giỏi riêng về một việc, hơn hẳn người thường và ít ai có được.
Là nếm cái lợi hại của mình, tức là lời hăm sẽ trị cho một trận để người ta từ nay khỏi dám.
Nhà riêng một căn có sân có rào, thứ nhà của người giàu.
Thưa một tiếng với người ta rồi mới ra đi; chào để chia tay, nói theo lối trang trọng.
Là riêng khác hẳn những cái cùng loại, và nó cũng đứng làm trạng từ nghĩa là nhứt là, để nêu ra một cái trong đám.
`Sai biệt` là từ Hán Việt `差別`, chỉ sự khác nhau, chỗ khác nhau hoặc tình trạng được phân biệt (*difference, distinction, differentiation*). Đây là từ trang trọng, thường gặp trong văn học thuật, triết học, Phật học hoặc bản dịch; trong hội thoại Sài Gòn và Nam Bộ hiện nay, `khác nhau`, `chỗ khác`, `khác biệt` thường tự nhiên hơn. `Sai` trong toàn từ mang nghĩa chênh khác, không phải cứ `sai biệt` là một điều sai trái. Mức độ khác lớn hay nhỏ phải được câu nêu; từ cũng không tự mang nghĩa phân biệt đối xử, bất bình đẳng hoặc kỳ thị nếu văn cảnh không nói tới cách đối xử. Có thể dùng như danh từ trong `có sự sai biệt giữa A và B` hoặc làm phần vị ngữ trong lối văn trang trọng `hai cách hiểu sai biệt`. Phân biệt `sai biệt` với `sai bét` khẩu ngữ nghĩa sai hoàn toàn, và với `sai lệch` thiên về chệch khỏi một chuẩn hay mốc.
Chia tay trong một thời gian, có ý sẽ gặp lại; cũng là lời chào khi rời nhau.
Tên người chung quanh đặt thêm cho một người hay một vật, ngoài tên thiệt, thường theo một nét riêng dễ nhận ra.
Cái tên riêng đặt thêm cho mình hay cho ai, để kêu thay cái tên thiệt.
Đi mất không để lại dấu vết, không còn tin tức, không ai biết ở đâu (đi biệt tích, trốn cho biệt tích, biệt tăm biệt tích); nói rộng ra là mất hẳn, không còn thấy.
Ở xa nhau, có cái gì ngăn ở giữa, không gần gũi được với nhau; cũng là khoảng chênh lệch giữa hai người hay hai nơi về tuổi tác, nhan sắc, địa vị hay lối sống.
Giấu kỹ, giấu hẳn đi, không cho ai thấy hay hay biết chút nào.
Là không biết, nói theo giọng Nam Bộ, và khi đứng cuối câu thì nó thành một tiếng than cho câu mình vừa nói.
Không giống nhau, mỗi bên một vẻ, một kiểu; cũng là chỗ không giống nhau giữa hai người, hai vật, hai việc.
Là nhận ra chỗ khác nhau giữa hai cái, nên nó luôn cần hai cái để so, và trong truyện nó thường đứng ở thể không phân biệt được.
Đã biết nhau, có giao thiệp ít nhiều với một người mà chưa hẳn thân; người quen biết là người mình biết; quen biết nhiều là giao thiệp rộng, có nhiều chỗ quen.
Từ giã một lần chót, không còn gặp lại nữa, thường là vì cái chết.
Không lộn với cái khác, đứng một mình một chỗ hay có nét riêng của nó.
Riêng về một ngành, một môn, tách ra khỏi phần học chung.
Nhìn, xem một cái gì cho tận mắt để biết nó ra sao, thường vì tò mò hay muốn hiểu cho rõ.
Bỏ đi đâu mất, không để lại dấu vết, từ đó không ai hay tin tức gì nữa.
Biết quá rõ, biết thừa một điều gì mà không cần ai nói ra; theo sau là điều mình biết.
Hiểu phép tắc ở đời và cư xử cho đúng mực, biết kính trên nhường dưới, không thô lỗ với ai.
Đặt sau một tính từ hay động từ để nói mức độ nhiều lắm, không đo được, như hết sức, vô cùng.
Biết sống cho có tình có nghĩa: thương người, nhớ ơn, cư xử phải đạo với người chung quanh.
Người mình đã biết mặt, có qua lại ít nhiều, nhưng không hẳn là bà con hay bạn thân.
Lời Nam Bộ và văn cũ đặt cuối câu, nghĩa là đành vậy, chớ không còn cách nào khác (phải chịu, chớ biết làm sao); có khi mang dấu hỏi tu từ.
Đặt sau một tính từ hay động từ chỉ cảm xúc để nói mức độ lớn quá, không đo được, không kể xiết.
Rối trí trước một chuyện khó, không biết phải tính cách nào, xử sao cho xong.