Nghĩa chữ
Chữ 辭 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 辭 (32)
Bắt đầu tính từ một mốc, mốc đó có thể là một ngày hoặc một chỗ.
Lòng thương xót chúng sanh, rộng lượng tha thứ, theo như lời Phật dạy.
Bỏ hẳn, không giữ, không theo đuổi hay không làm nữa một điều mình từng có hay từng làm.
Là chậm và đều, không gấp, và trong tiếng Nam Bộ nó cũng là lời khuyên: đi từ từ nghĩa là đừng nóng, cứ để vậy mà tới.
Thưa với chủ nhà một tiếng rồi xin phép ra về.
Nói lời chia tay rồi đi, bỏ chỗ đó mà đi.
`Mạo từ` là thuật ngữ ngôn ngữ học tương ứng `article`: từ chức năng đi với danh ngữ để biểu thị các phân biệt ngữ pháp như xác định/bất định theo hệ thống từng ngôn ngữ. Trong tiếng Anh, `a/an` là mạo từ bất định và `the` là mạo từ xác định; `a/an` dùng với danh từ đếm được số ít, còn `the` có phạm vi rộng hơn, kể cả số nhiều và không đếm được khi danh ngữ xác định. Có trường hợp không dùng mạo từ (`zero article`). Không áp quy tắc tiếng Anh cho mọi ngôn ngữ và không tự gọi mọi từ đứng trước danh từ tiếng Việt là mạo từ. Ghi chú cách dùng (không dùng làm bí danh): Ngữ pháp tiếng Anh: article: a, an, the; zero article. A/an bất định; the xác định; zero article là vắng mạo từ trong môi trường thích hợp.
Lá thơ qua lại giữa người nầy với người kia; giấy gởi tới nhận về.
Là chào mà đi, nên nó khác chào ở chỗ nó là lời chào lúc rời khỏi, và nó luôn kèm cái ý rằng người ta sắp không còn ở đây.
Từ lúc nãy, từ một lúc trước cho tới bây giờ; nói một việc cứ kéo dài suốt khoảng thời gian vừa qua.
Không nhận, không chịu theo lời mời hay lời nhờ của người khác.
Là chữ dùng để gọi một thứ, và trong văn Nam Bộ nó thường có nghĩa rộng là cái tên gọi, cái tiếng người ta đặt ra, chớ không riêng nghĩa nhà trường.
Tiếng dùng để chỉ việc làm của người, của vật, như ăn, thấy, yêu, hứng; một loại tiếng trong văn phạm.
Là hiền và thương người, cái hiền có lòng thương trong đó, nên hầu như luôn dùng để tả gương mặt.
Liền từ một lúc nào đó trở đi, nhấn cho thấy sự việc đã có từ sớm chớ không đợi tới sau.
Hiền lành, có lòng thương người, hay làm ơn và dễ tha thứ.
Có lòng thương người, hiền hậu và rộng lượng với kẻ khác; đây là cách người Nam đọc chữ nhân từ.
Chào mà đi, và cái chào nầy trang trọng hơn chào thường vì nó có xa cách.
Là không nhận, không chịu cái người ta đưa ra, nên nó khác không ở chỗ nó là lời không có phép tắc, nói ra cho người kia nghe.
Xin thôi, bỏ chức vụ hay công việc mình đang giữ.
Chết, lìa đời; tiếng trang trọng, kính nể, dùng khi nhắc tới việc một người mất.
Không chịu nhận, không chịu nghe theo điều người ta đưa ra hay xin mình.
Có lòng thương người, hay ra tay giúp kẻ nghèo khổ, kẻ gặp nạn; cũng nói việc làm để giúp họ.
Kể từ lúc trời mới tối, đầu buổi tối; hay nói kèm tới giờ, tới khuya, tới sáng để chỉ suốt một khoảng đêm dài.
Từ hồi còn nhỏ, từ lúc còn con nít cho tới bây giờ hay tới lúc đang kể.
Tiếng dùng thế cho tên người, tên vật khi nói chuyện, như tôi, anh, em, ta, nó.
Từ hồi còn con nít, bắt đầu từ lúc còn nhỏ mà kéo dài cho tới lúc đang nói.
Kể từ lúc còn khuya, trong mấy giờ đêm tối trước khi trời sáng, kéo dài tới lúc đang nói hay tới một lúc về sau.
Kể từ bây giờ cho tới mai sau; lối nói miền Nam, hay đi với lời hứa, lời dặn hay lời răn.
Từ lâu lắm rồi cho tới bây giờ, suốt một khoảng thời gian dài mà người nói không cần đếm cho rõ.
Từ lúc sáng sớm, kể từ buổi sáng cho tới lúc đang nói; sớm mơi là sớm mai theo giọng Nam xưa.
Kể từ bây giờ cho tới sau nầy, dùng khi hứa, khi dặn hay khi đặt ra một lệ mới.