Âm: văn
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 文 ở trên, 厂生 ở dưới. Chữ nầy xếp vào bộ sinh 生, nghĩa là sống, sinh ra.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 文 ở trên, 厂生 ở dưới. Chữ nầy xếp vào bộ sinh 生, nghĩa là sống, sinh ra.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 產 (35)
Yếu tố Hán Việt 產 trong từ ghép: sinh đẻ (sanh sản, sinh sản); làm ra, vật làm ra (sản xuất, khoáng sản); của cải (tài sản, gia sản, sự sản, di sản, phá sản).
`Sản bà` (`產婆`) là từ cũ chỉ người phụ nữ làm nghề đỡ đẻ (*midwife, traditional birth attendant*), gần `bà đỡ`, `bà mụ`. Đây là tên nghề lịch sử, không nên dùng làm chức danh y tế hiện hành; `hộ sinh` ngày nay là chức danh chuyên môn có đào tạo và phạm vi hành nghề theo quy định. Từ không tự cho biết người đó được cấp phép, có kỹ năng nào, hay cuộc sinh an toàn; không dùng mục từ để khuyên sinh không có hỗ trợ chuyên môn.
Của cải một người hay một nhà làm chủ, gồm tiền bạc, ruộng đất, nhà cửa và đồ đạc.
Toàn bộ của cải, nhà đất, tiền bạc của một người hay một gia đình.
Cá, tôm, cua và các thứ khác bắt được ở biển, coi như một nguồn lợi.
Làm ăn thua lỗ tới mức mất hết vốn liếng, không còn trả được nợ và phải thôi kinh doanh.
`Sản chủ` là từ cũ/hiếm chỉ người làm chủ một tài sản hoặc gia tài (*property owner, proprietor*), hiện thường nói `chủ tài sản`, `chủ sở hữu`. Bản in không cho mặt chữ; cấu tạo có khả năng là `產主`, nhưng VietLayers không trình bày toàn mặt chữ như đã xác lập khi chưa có chứng tích trực tiếp. Danh xưng sản chủ không tự chứng minh quyền sở hữu hợp pháp, sở hữu riêng, toàn quyền định đoạt, không có tranh chấp hay tài sản không bị hạn chế; phải xem hồ sơ và quy định áp dụng.
`Sản dục` (`產育`) là từ trang trọng/cũ chỉ việc sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái (*bearing and rearing children*). Tùy câu có thể nhấn riêng sự sinh nở, nhưng không đồng nhất với khả năng sinh sản, mang thai, thiên chức hay nghĩa vụ phải có con. Từ không cho phép đánh giá giá trị, giới hay sức khỏe của một người qua việc họ có sản dục hay không. Tiếng hiện nay thường dùng `sinh con`, `sinh và nuôi con`.
`Sản hậu` (`產後`) nghĩa là sau khi sinh hoặc thời kỳ sau sinh (*postpartum, postnatal period*), thường nói về phục hồi và chăm sóc người mẹ; WHO tập trung sáu tuần đầu. `Hậu sản` hiện thông dụng hơn trong nhiều cụm. Sản hậu không tự là một bệnh; phải gọi đúng biến chứng như băng huyết sau sinh, nhiễm trùng hay trầm cảm sau sinh. Không gọi mọi mệt, ốm hay đau sau sinh là `bệnh sản hậu`.
`Sản môn` (`產門`) là thuật ngữ sản khoa cũ chỉ đường hoặc cửa thai đi qua khi sinh, tùy văn cảnh gần `đường sinh`, `ống sinh`, `ngả âm đạo` hay `cửa mình` (*birth canal, vaginal outlet*). Lời giải cũ `lỗ đẻ` thô và quá hẹp; đường sinh còn liên quan khung chậu và mô mềm. Không dùng từ này cho mọi cơ quan sinh dục, không suy hình dạng, khả năng sinh thường hay tình trạng bệnh từ tên gọi.
`Sản nan` (`產難`) là từ y học cũ chỉ cuộc sinh gặp trở ngại hoặc khó khăn (*difficult labour, dystocia*), hiện thường nói `khó sinh`, `đẻ khó`, `chuyển dạ kéo dài` hay `chuyển dạ tắc nghẽn` theo chẩn đoán cụ thể. Từ không nêu nguyên nhân, mức độ hay cách xử trí; không dùng các thuyết khí huyết cổ để tự chẩn đoán hoặc tự chữa. Chuyển dạ kéo dài hay tắc nghẽn cần được nhân viên y tế đánh giá kịp thời.
`Sản phụ` (`產婦`) là người phụ nữ đang sinh hoặc vừa sinh con (*woman in labour, woman who has recently given birth; parturient*). Phạm vi cụ thể tùy bệnh án và quy trình chăm sóc. Không đồng nhứt sản phụ với mọi `thai phụ` trong suốt thai kỳ, với trẻ sơ sinh, hay với `bà đỡ/hộ sinh`; tên gọi không cho biết cách sinh, biến chứng, tuổi, số con hoặc tình trạng sức khỏe. Trong giao tiếp chăm sóc nên ưu tiên cách gọi tôn trọng theo mong muốn của người được nói tới.
`Sản vật` (`產物`) là vật hoặc kết quả do tự nhiên, một vùng đất, lao động hay một quá trình tạo ra (*produce, product, yield*). Từ thường gợi rõ nguồn sinh ra, như `sản vật địa phương`, `sản vật của rừng`, và có thể dùng nghĩa rộng cho kết quả của một thời đại hay hoàn cảnh. Không đồng nhất sản vật với mọi sản phẩm chế tạo, đặc sản, tài nguyên còn nằm nguyên tại chỗ, hàng đã bán hoặc hàng đạt chuẩn; nguồn gốc, quyền khai thác, chất lượng và tính bền vững cần căn cứ riêng.
Của cải một người hoặc một nhà làm chủ, kể cả đất, nhà, tiền.
Của cải dời đi được, đem đi cầm, đi bán được, khác với đất đai nhà cửa là thứ nằm một chỗ.
Nông sản là sản vật làm ra từ nghề nông, như lúa gạo, hoa màu, đem dùng hay bán ra.
Sinh ra thêm con cái, thêm cây con, làm cho giống loài nảy nở ra nhiều; cách nói Nam Bộ của sinh sản.
`Sản khoa` (`產科`) là chuyên ngành y học chăm sóc thai kỳ, chuyển dạ, sinh nở và thời kỳ sau sinh (*obstetrics*). Trong lời thường, `khoa sản` có thể chỉ đơn vị bệnh viện cung cấp dịch vụ đó. Sản khoa không đồng nghĩa toàn bộ phụ khoa, nhi khoa hay riêng phòng sinh; tên khoa không tự nói bệnh viện có dịch vụ, cấp chuyên môn hoặc lịch trực nào.
`Sản phẩm` (`產品`) là kết quả được tạo ra từ một quá trình sản xuất, lao động, thiết kế hoặc sáng tạo (*product, output, work*). Tùy lĩnh vực, đó có thể là hàng hóa hữu hình, phần mềm, dịch vụ được đóng gói, tác phẩm hay kết quả nghiên cứu. Không đồng nhứt sản phẩm với hàng đã bán, thành phẩm, hàng đạt chuẩn, thương hiệu, doanh thu hoặc sản lượng; chất lượng, nguồn gốc, sở hữu và quyền sử dụng phải có căn cứ riêng.
`Sản sinh` (`產生`) nghĩa là sinh ra, tạo ra hoặc làm phát sinh một người, vật, kết quả hay hiện tượng (*give rise to, generate, produce*). Chủ thể có thể là sinh vật, quá trình, vùng đất, nền văn hóa hoặc hệ thống. Từ nhấn nguồn phát sinh, không tự cho biết nguyên nhân duy nhất, chủ ý, quyền sở hữu, chất lượng, số lượng hay quan hệ nhân quả đã được chứng minh; khi nói người nên tránh cách dùng vật hóa nếu `sinh ra`, `nuôi dưỡng`, `đào tạo` tự nhiên hơn.
`Sản tiền` (`產前`) là cách gọi cũ nghĩa là trước khi sinh (*antenatal, prenatal, antepartum*), hiện thường nói `trước sinh`, `trước khi sinh` hoặc dùng `tiền sản` trong một số thuật ngữ. Từ có thể chỉ thời kỳ, chăm sóc hay tình trạng trước cuộc sinh, không phải tên một bệnh. Tuyệt đối không nhập `sản tiền` với `tiền sản giật`, một rối loạn tăng huyết áp thường xuất hiện sau 20 tuần thai; triệu chứng khi mang thai cần được đánh giá theo chuyên môn.
Làm ra hàng hóa, sản vật (lò sản xuất, sản xuất lúa gạo); làm phim, nhà sản xuất phim; nói đùa là đẻ thêm con.
Động vật, thực vật và sinh vật sống trong nước được khai thác hoặc nuôi để làm thực phẩm, nguyên liệu, hàng hóa hay mục đích khác; cũng chỉ ngành sản xuất liên quan.
`Sản lượng` (`產量`) là lượng sản phẩm hoặc đầu ra tạo được trong một thời kỳ và phạm vi xác định (*output, production volume, yield*). Đơn vị có thể là tấn, chiếc, kWh hay đơn vị phù hợp. Không đồng nhứt sản lượng với năng suất (trên một đơn vị đầu vào/diện tích), doanh thu, lợi nhuận, tồn kho hay chất lượng; muốn so sánh phải cùng sản phẩm, kỳ, phạm vi và cách đo.
`Sản quyền` (`產權`) là thuật ngữ pháp lý cũ trong tiếng Việt chỉ quyền riêng được pháp luật bảo hộ đối với thành quả sáng tạo hay chế tạo, lời giải cũ gần `tác quyền`, quyền đối với sáng chế và kiểu dáng. Hiện phải gọi đúng `quyền tác giả`, `quyền sở hữu công nghiệp`, `quyền đối với sáng chế`, `quyền đối với kiểu dáng công nghiệp` X theo đối tượng và căn cứ xác lập. Không dùng sản quyền như bằng chứng tự động về chủ sở hữu, phạm vi, lãnh thổ, thời hạn, đăng ký, tính mới, quyền ngăn cấm hay hành vi xâm phạm.
Chữ Hán 產業: của cải, nhà đất, cơ ngơi làm ra lợi mà một người hay một nhà gầy dựng và nắm giữ (gìn giữ sản nghiệp, phá tan sản nghiệp, gia tài sản nghiệp).
Của cải không dời đi chỗ khác được, như đất đai, ruộng vườn, nhà cửa.
`Sản noãn loại` là cách phân loại cũ chỉ nhóm động vật đẻ trứng (*oviparous animals*), như nhiều loài chim, cá, bò sát, lưỡng cư và động vật không xương sống. Tiếng hiện nay thường dùng `động vật đẻ trứng` hoặc `loài đẻ trứng`. Đây là nhóm theo kiểu sinh sản, không phải một nhánh tiến hóa duy nhất; không suy mọi loài trong một lớp đều đẻ trứng, mọi trứng đều có vỏ cứng, được thụ tinh hay phát triển ngoài cơ thể theo cùng một cách.
`Sản nghiệp tự do` là thuật ngữ kinh tế cũ chỉ quyền tự chủ kinh doanh và sản xuất, hạn chế sự chỉ huy trực tiếp của Nhà nước (*free enterprise, freedom of enterprise; historically laissez-faire industry*). Lời giải cũ nói `không phải chịu sự chỉ huy hay hạn chế của chính phủ` là tuyệt đối hóa: tự do kinh doanh hiện vẫn nằm trong Hiến pháp, pháp luật về ngành nghề, thuế, lao động, môi trường, cạnh tranh và quyền người khác. Từ không đồng nghĩa kinh doanh không đăng ký, không chịu trách nhiệm hay thị trường hoàn toàn không có Nhà nước.
`Sản nghiệp tổ hợp` là thuật ngữ kinh tế cũ chỉ sự liên kết của nhiều xí nghiệp nhỏ để phối hợp nguồn lực và cạnh tranh với xí nghiệp lớn, nhiều vốn (*association or consortium of small enterprises*). Tùy cấu trúc thực tế, hiện có thể nói `liên minh doanh nghiệp nhỏ`, `hiệp hội`, `tổ hợp tác`, `hợp tác xã` hoặc `liên danh`; các tên này không đồng nghĩa. Cụm cũ không tự cho biết tư cách pháp nhân, sở hữu chung, quản trị dân chủ, chia lợi ích, trách nhiệm nợ hay thỏa thuận có hạn chế cạnh tranh hay không.
`Sản nghiệp hạn chế` là thuật ngữ kinh tế cũ chỉ sự liên kết giữa các xí nghiệp cùng ngành để điều chỉnh hoặc hạn chế lượng sản xuất theo nhu cầu thị trường, nhằm tránh tồn đọng và giảm giá; gần một dạng `cartel hạn chế sản lượng` (*output-restriction cartel*). Không dùng nghĩa tính từ chung `sản nghiệp bị hạn chế`. Thỏa thuận giữa đối thủ về sản lượng, giá hay chia thị trường có thể vi phạm pháp luật cạnh tranh; từ này không tự cho biết thỏa thuận có thật, hợp pháp, hiệu quả hay mọi thành viên đều tuân theo.
`Sản nghiệp quốc hữu` là cách gọi kinh tế cũ cho ngành hoặc xí nghiệp được đưa vào sở hữu hay quyền kiểm soát của Nhà nước qua `quốc hữu hóa` (*nationalized industry, state-owned enterprise/sector*). Tùy câu, phải phân biệt quá trình quốc hữu hóa với kết quả là doanh nghiệp nhà nước. Từ không tự cho biết Nhà nước nắm bao nhiêu vốn, có bồi thường hay không, tài sản nào chuyển giao, doanh nghiệp còn tồn tại, hiệu quả quản trị hay tính hợp pháp của vụ việc.
`Sản nghiệp công nhân` (`產業工人`) là cách gọi cũ, theo trật tự Hán Việt, chỉ công nhân làm trong ngành sản xuất công nghiệp (*industrial worker*). Tiếng Việt hiện nay thường nói `công nhân công nghiệp`, hoặc gọi cụ thể `công nhân nhà máy`, `công nhân mỏ`, `công nhân xây dựng` tùy hệ phân loại. Từ không tự cho biết nghề cụ thể, trình độ, loại hợp đồng, thành viên công đoàn, thu nhập, điều kiện lao động hay quan điểm chính trị; phạm vi `công nghiệp` còn tùy nguồn thống kê.
`Sản nghiệp bảo hộ chế độ` là cách đặt từ cũ, nay không tự nhiên, chỉ chế độ hoặc chính sách bảo hộ mậu dịch nhằm che chở ngành sản xuất trong nước trước cạnh tranh hàng nhập (*industrial protection regime, protectionism*). Tiếng hiện nay dùng `chế độ bảo hộ sản nghiệp`, `chính sách bảo hộ ngành sản xuất` hoặc `chủ nghĩa bảo hộ`. Không đồng nhất khái niệm rộng này với mọi thuế quan, tiêu chuẩn kỹ thuật, trợ cấp, chống bán phá giá hay biện pháp tự vệ; tính hợp pháp, mục tiêu và điều kiện phải xét theo biện pháp cụ thể.
`Sản nghiệp dân chủ chủ nghĩa` là thuật ngữ kinh tế và lao động cũ chỉ quan niệm `dân chủ công nghiệp`: người lao động được tham gia vào quyết định quản trị doanh nghiệp và, trong lời giải lịch sử, chia lợi nhuận (*industrial democracy, worker participation*). Tiếng hiện nay nên dùng `dân chủ tại nơi làm việc`, `người lao động tham gia quản trị`, `đồng quản trị` hoặc `chia lợi nhuận` đúng cơ chế. Từ không tự khẳng định người lao động sở hữu, kiểm soát toàn bộ, có quyền biểu quyết ngang nhau, được chia mức lợi ích nào hay doanh nghiệp là hợp tác xã.