Nghĩa chữ
Chữ 場 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 場 (19)
Nơi diễn tuồng, diễn kịch cho người ta coi; sân khấu, cũng nói nghề đứng trên sân khấu.
Thứ ghế dài bằng gỗ, vài người ngồi chung được, thường đóng theo lối xưa và đặt ở nhà trên để tiếp khách.
Chỗ mở ra cho người ta tới nhảy đầm, có nhạc, có đèn mờ, có người nhảy mướn.
Nghỉ hè, lúc trường đóng cửa và học trò về nhà; lối nói Nam Bộ.
Gan dạ, dám đương đầu với chuyện khó, chuyện nguy mà không sợ, không lùi.
Phần phía sau sân khấu, khán giả không thấy, nơi đào kép sửa soạn và chờ ra diễn.
Cách nghĩ, cách nhìn mà một người đã chọn và giữ trước một việc, không dễ đổi theo người khác.
Những điều kiện tự nhiên bao quanh và tác động tới sự sống (môi trường thay đổi); cũng là khung cảnh sinh hoạt, giới chung quanh một người (sống trong môi trường của mình).
Chỗ rộng có đường cho máy bay cất cánh, đáp xuống, và có nhà cho hành khách lên xuống máy bay.
Nơi và phạm vi người mua, người bán trao đổi một thứ hàng, chịu giá cả lên xuống theo cung cầu (thị trường Sài Gòn, giá thị trường, tìm thị trường, có bán trên thị trường).
Nơi có đường chạy để đua ngựa và cá ngựa ăn tiền.
Nơi có thầy cô dạy và học trò tới ngồi lớp; cũng là căn nhà, khu nhà cất lên cho việc đó.
Là cái tình cảnh riêng của một việc hay một người, thứ để đem ra so với cái khác, nên nó gần với chữ cảnh ngộ mà khách quan hơn.
Khoảng đất rộng giữa phố cho xe và người tụ lại, và chỗ đang dựng cất.
Đau đớn, khổ sở tới như đứt ruột; cũng chỉ cảnh khổ mà người ta phải trải qua.
Lúc trường mở cửa cho học trò vô học lại sau kỳ nghỉ; cũng nói việc mở một trường học.
Tên gọi cũ ở Nam Bộ của sở Công chánh lo đường sá, cầu cống, đo đạc, cấp giấy phép lái xe (sở Trường Tiền); đi với ông, quan, Bác vật thì chỉ người làm việc hay giữ chức trong sở đó.
Trong một hoàn cảnh, một tình huống nhứt định; đứng trước một vế điều kiện thì nghĩa là nếu xảy ra chuyện đó.
Trường Pháp chánh là tên gọi lịch sử bằng tiếng Việt của trường đào tạo về luật và hành chính tại Hà Nội thời Pháp thuộc, thường đối chiếu với École de Droit et d’Administration. Văn liệu Nam Bộ nhắc người học ra Hà Nội học ba năm rồi vô ngạch hành chính. `Pháp chánh` ở đây là 法政, gồm pháp luật và chính sự/hành chính; chữ `chánh` là lối ghi phổ biến trong văn Nam Bộ cũ, không phải bằng chứng tên chính thức của mọi thời kỳ. Không đồng nhứt máy móc trường nầy với một trường luật hiện nay, không suy người học chắc chắn tốt nghiệp, làm quan hay có bằng cử nhân. Khi viết lịch sử phải kèm thời điểm, chương trình hoặc văn bằng cụ thể nếu nguồn có.