Nghĩa chữ
Chữ 市 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 市 (21)
Gợi ngầm cho người ta, hay cho chính mình, tin hay nghĩ theo một điều mà không nói thẳng ra.
Thành phố; chỗ dân ở đông đúc, nhà cửa phố xá liền nhau, khác với chỗ đồng ruộng, thôn quê.
Nói con mắt chỉ thấy rõ vật ở gần, nhìn xa thì mờ, phải đeo kiếng mới thấy rõ.
Tờ giấy của nhà nước hay của một sở dán ra nơi công cộng để báo cho dân hay một việc.
Lời người đứng ra sắp đặt dặn xuống, biểu phải làm sao, người nhận cứ theo đó mà làm.
Chợ họp trên sông hoặc vùng mặt nước, nơi người bán và người mua chủ yếu giao dịch từ ghe, xuồng; loại chợ nầy gắn với nhiều vùng sông nước, trong đó có Nam Bộ.
Là phiên chợ lớn mở có kỳ hạn, vừa bán hàng vừa có trò vui, nên nó là dịp cả tỉnh kéo tới và là chỗ người ta gặp nhau.
Lời người đời bàn ra bàn vô về mình, khen chê phải quấy.
Đúng là vậy, chắc chắn không sai, không phải ai khác hay cái gì khác.
Là người coi kỷ luật trong trường hay trong viện, nên trong truyện bà giám thị là người học trò vừa sợ vừa né.
Tiệm lớn bán đủ thứ hàng, khách tự lấy hàng trên kệ rồi đem ra quầy tính tiền.
Giới thiệu, chào mời cho người ta biết và mua món hàng; cũng là nghề, là việc làm đó.
Coi thường, xem rẻ, không coi người khác ra gì.
Chỗ có phố có chợ, nơi đông người ở, khác với miệt ruộng.
Chốn phố phường, thành thị, đối với nhà quê.
Thôn quê đổi lần ra thành phố, hay có phố xá, hàng hóa, nếp sống như ở thành phố.
Nơi và phạm vi người mua, người bán trao đổi một thứ hàng, chịu giá cả lên xuống theo cung cầu (thị trường Sài Gòn, giá thị trường, tìm thị trường, có bán trên thị trường).
Cách gọi Nam Bộ cho chợ nhỏ họp tạm bên lề đường, vỉa hè, người bán ngồi chồm hổm sát hàng bày dưới đất hay trên sạp thấp.
Lối nói Nam Bộ tả một nơi hay một nếp sống nửa chợ nửa quê, có dáng thị tứ mà vẫn giữ cảnh và nếp quê, chưa thuần hẳn bên nào.
Lời thiên hạ bàn tán, dị nghị, chê cười về chuyện riêng của một người, làm người đó mang tiếng.
Thành ngữ chỉ cảnh phải ăn uống ngoài hàng quán, thường vì đi xa, mưu sinh lưu động hoặc chưa có nếp nhà ổn định. Tùy câu, cụm gợi sự tạm bợ, thất thường, mệt mỏi hay nhớ bữa cơm nhà; không phải lời đánh giá chất lượng mọi món bán ở quán hoặc chợ. Bản dịch nên diễn đạt tình cảnh như living on meals from roadside eateries, eating out while constantly on the road hoặc an unsettled life away from home, thay vì dịch từng chữ rice shop and market porridge.