Âm: ngôn
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 言 bên trái, 義 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ ngôn 言, nghĩa là lời nói.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 言 bên trái, 義 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ ngôn 言, nghĩa là lời nói.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 議 (18)
Là nêu ra một việc cho người khác xét, đứng đầu câu thì thành một lời nhờ lịch sự như đề nghị anh Đông tới nhà một người, và làm danh từ thì là chính cái việc được nêu ra.
Bàn ra tán vô cho là không phải, nói xấu sau lưng người ta.
Cuộc họp đông người, có sắp đặt trước, để bàn bạc và quyết định việc chung.
Là mời người nghe tự cân nhắc lấy, tức là tôi nói rồi, anh tự thấy đúng hay sai; trong suy nghĩ coi thì là tự mình ngẫm cho ra một việc còn phân vân.
Cái sức trong lòng giúp người ta gắng mà đi tới, gặp khó cũng không bỏ.
Suy xét kỹ, thường lặng thinh một hồi, trước khi nói, trả lời hay quyết định điều gì (ngồi ngẫm nghĩ một hồi rồi nói).
Bàn bạc, bàn luận có lý lẽ về một vấn đề; cũng chỉ loại văn bàn luận, phân tích.
Nghĩ sai, nghĩ xấu cho người khác hay cho một chuyện vốn không có gì; cũng là có ý nghĩ không đàng hoàng.
Cứng cỏi, vững vàng, không dễ gì lung lay; hay nói về nét mặt.
`Quyết nghị` là động từ trang trọng chỉ một tập thể, hội đồng hoặc cuộc họp bàn bạc rồi đi đến quyết định chung, thường qua biểu quyết: *resolve; decide after deliberation; adopt by resolution*. Cấu trúc thường là `hội đồng quyết nghị + nội dung` hoặc `quyết nghị rằng`. Đây là từ có chứng tích `決議`, không phải lỗi chính tả; tuy nhiên phải phân biệt với `nghị quyết` là danh từ chỉ quyết định/văn bản được thông qua. Vì vậy `hội đồng quyết nghị thông qua phương án` có thể đúng, còn `ban hành một quyết nghị` trong tiếng Việt hành chính hiện đại thường cần xem lại xem người viết có định nói `nghị quyết` hay không. Việc quyết nghị không tự chứng minh đủ túc số, đúng thẩm quyền, nhất trí, hợp pháp hay đã có hiệu lực; phải đọc điều lệ, biên bản và văn bản liên quan. Từ này trang trọng, ít dùng trong hội thoại Sài Gòn và Nam Bộ; lời thường nói `bàn rồi chốt`, `cả nhóm biểu quyết rồi quyết`, nhưng không thay thuật ngữ trong trích dẫn chính thức. Tab ghi `決議`.
Đưa ra lời khuyên có cân nhắc về điều nên làm, thường là lời của người có chuyên môn hay của một cơ quan; cũng là lời khuyên đó.
Đứng đắn mà nghiêm, nét mặt và dáng điệu làm cho người ta phải kiêng.
Nghĩ lan man hết chuyện nầy tới chuyện kia, không có đầu đuôi, không nhằm vô việc gì nhứt định.
Lời mời người nghe suy xét một chuyện cho kỹ, coi có nên, có được hay không.
Để cho ý nghĩ trôi đi hết chuyện nầy tới chuyện khác, kéo dài không dứt, thường lúc ngồi hay nằm một mình.
Nghĩ hết chuyện nầy tới chuyện kia, không theo đầu đuôi, không đâu vô đâu.
Nghĩ ngợi nhiều lắm, nghĩ tới nghĩ lui trong bụng mà không nói ra, người ngoài nhìn cũng thấy.
Một ý chợt tới trong đầu rồi đi mau, không ở lâu, mà có khi làm người ta đổi ý hay làm liền một việc.