Nghĩa chữ
Chữ 回 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 回 (28)
Viết thơ trả lời cho người đã gởi thơ cho mình; cũng là lá thơ trả lời đó.
Sách hay bài một người viết kể lại những chuyện chính mình đã sống qua, đã thấy.
Là lúc quá trưa mặt trời đã xế, khoảng một hai giờ cho tới trước chiều, nên nó là một mốc giờ riêng của người Nam Bộ.
Trong lòng dậy lên một mối cảm, không yên mà cũng không phải khổ.
Cụm thời gian Nam Bộ nghĩa là hồi hôm ấy, hồi bữa ấy hoặc at that earlier time/that time the other day. Nguồn phân tích hổm là hôm ấy; trong hồi hổm, cả cụm trỏ một thời đoạn ban ngày hoặc ban đêm thuộc một ngày quá khứ mà người nghe có thể nhận ra từ câu chuyện. Không đồng nhất với hôm hổm nghĩa mấy hôm trước, bữa hổm thường gọi một dịp/ngày không nêu chính xác, hay hổm rày chỉ quãng gần đây tới hiện tại. Hồi hổm không tự nói việc xảy ra ban đêm: chữ hôm trong lịch sử cấu tạo không buộc nghĩa modern English night. Khi không có ký ức chung, nên thêm sự kiện neo như hồi hổm ghé nhà ngoại.
Là tim đập mạnh vì chờ một việc chưa biết ra sao, nên nó khác sợ ở chỗ sợ là biết cái hại còn hồi hộp là chưa biết.
Thôi làm việc nhà nước vì đã lớn tuổi, về nhà nghỉ ngơi.
Là một khoảng thời gian khá dài vừa trôi qua, tiếng Nam Bộ, nên nó đo cái im lặng hay cái chờ đợi chớ không đo phút giây.
Cụm thời gian Nam Bộ cấu tạo từ hồi + nẳm, trong đó nẳm là dạng hợp âm của năm ấy. Nghĩa gốc chỉ hồi năm ấy/that year; trong cách kể quen thuộc, hồi nẳm còn đẩy sự việc về thời xa xưa, dịch back in those days hoặc a long time ago. Biến thể nhấn hồi năm nẳm làm độ xa và sắc thái hồi tưởng nổi rõ hơn. Không dùng hồi nẳm cho việc mới xảy ra vài hôm, không suy một năm dương lịch cụ thể nếu câu không nêu, và không mặc định ký ức được kể là chính xác chỉ vì người nói nhớ lâu. Cụm không đồng nghĩa ngày xửa ngày xưa mở truyện cổ tích, dù cả hai có thể nói quá khứ xa.
Là lúc vừa mới qua trong cùng ngày.
Trở về chỗ cũ, trở về nơi mình đã ra đi; tiếng xưa dùng trong lời hát, lời văn.
Nghĩ lại, tỉnh ngộ mà đổi ý hay hối hận về việc mình làm.
Dựng lại, làm lại một vật hay một điều đã mất, đã hư cho giống như hồi trước.
Sống lại sau khi tưởng đã chết, đã tàn; cũng nói người hay tình cảm tươi tỉnh trở lại sau một lúc ê chề.
Hết mê man, biết lại chung quanh sau khi bị ngất hay bị thương nặng.
Nói người đã đứng tuổi mà sức sống và lòng ham yêu nổi lên lại như thời còn trẻ.
Hết lượt nầy tới lượt khác, nối nhau hoài không ngừng, thường nói về tiếng động hay một cử động lặp lại.
Trở về quê nhà, xứ sở của mình sau một thời gian sống ở nơi xa, nhứt là ở nước ngoài.
Là cái khoảng đêm về sáng đã qua rồi, tức lúc gần sáng của đêm vừa dứt, không phải tối hôm qua.
Là cái thời đã qua, nói mà không định rõ năm nào, thường để so cái hồi đó với cái bây giờ.
Nhớ lại, nghĩ lại những gì đã qua.
Lúc nãy, cách đây một chút, nói để chỉ lại cái việc hay cái vật mà người nghe mới thấy, mới nghe.
Lúc buổi sáng của chính ngày đang nói, khi sáng nay, đã qua rồi.
Là sáng nay, lúc đã qua rồi trong cùng một ngày, và tiếng mơi là lối Nam Bộ của tiếng mai, nên cả cụm là một dấu giọng miền rất rõ.
Kể từ lúc còn khuya, trong mấy giờ đêm tối trước khi trời sáng, kéo dài tới lúc đang nói hay tới một lúc về sau.
Lúc trời vừa rạng, mới hừng sáng, khi mặt trời chưa mọc hẳn.
Từ lúc sáng sớm, kể từ buổi sáng cho tới lúc đang nói; sớm mơi là sớm mai theo giọng Nam xưa.
Sau một lúc khá lâu, dùng ở đầu câu để nói việc kế tiếp xảy ra khi thời gian đã trôi qua một đỗi.