Nghĩa chữ
Chữ 鄉 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 鄉 (24)
Quê cũ, nơi mình sanh ra và lớn lên mà nay đã đi xa.
Chức đứng đầu ban hương chức của làng Nam Bộ thời trước, trên hương chủ.
Là chức hương coi việc dạy và việc luân lý trong làng, một bực trên hương quản trong cái thang chức làng Nam Bộ xưa.
Mùi thơm và vị của món ăn, thức uống; nói bóng là cái cảm giác riêng mà một điều gì đem lại.
Rời bỏ quê nhà mà đi ở nơi xa; xa quê.
Trở về quê nhà, xứ sở của mình sau một thời gian sống ở nơi xa, nhứt là ở nước ngoài.
Một chức việc trong ban hương chức của làng Nam Bộ thời trước, đứng dưới ông cả.
Là chức hương thấp trong làng, tức là bực người ta mới ra làm làng thì làm trước, rồi mới lần lên hương quản với hương sư.
Phần ruộng đất, nhà cửa ông bà cha mẹ để lại cho một người con giữ, lấy huê lợi mà lo cúng giỗ; cũng là việc thờ cúng ông bà trong nhà.
Mùi thơm và màu tươi của bông hoa; nghĩa bóng là vẻ đẹp tươi thắm, nhứt là của người con gái đang thì.
Nói đời sống, vận số của một người bước vô lúc phát đạt, gặp may, khá hơn trước; thường đi trong đời lên hương, cuộc đời đang lên hương.
Là cái xứ mình sanh ra và lớn lên, không phải chỉ một chỗ trên bản đồ mà là chỗ mình thuộc về.
Người cùng quê, cùng làng hay cùng tỉnh với mình, nhứt là khi gặp nhau ở nơi xa.
Là đi tới một chỗ thiêng mà lễ bái, và văn Nam Bộ mượn nó cho việc trở lại một chỗ mình từng thương, nên đó là cuộc hành hương tình cảm.
Tên cũ đọc theo âm Hán Việt của Hồng Kông (香港), hải cảng lớn ở miền nam nước Tàu, nơi gạo Sài Gòn thời trước chở qua bán.
Là cả bộ người có chức trong làng nói gộp lại, nên nó không đếm từng người mà chỉ cả hàng: hương hào, hương quản, hương sư, hương thôn.
Là người coi việc an ninh trong làng thời trước, tức là ông cò của làng, một trong những chức hương ở Nam Bộ.
Một chức việc trong ban hương chức của làng Nam Bộ thời trước, dưới hương chủ.
Mùi thơm dễ chịu, nhứt là của hoa, cỏ, trái chín hay của đất trời.
Người giữ chức lớn nhứt trong hàng hương chức của một làng Nam Bộ thời trước, có quyền và có vai vế ở đình làng.
Đi viếng một chốn linh thiêng, hay trở lại một nơi mình quý, có kỷ niệm, với lòng thành kính như người đi viếng chùa miếu.
Những người giữ chức việc trong một làng ở Nam Kỳ thời trước, do làng cử ra để lo việc chung của làng.
Tiếng gọi kính người giữ chức hương quản trong làng ở Nam Kỳ hồi xưa, người lo giữ trật tự, canh gác trong làng.
Ban chức việc cai quản một làng ở Nam Kỳ thời trước, gồm các hương chức ngồi chung một hội tề để lo việc làng.