Âm: thủy
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 氵 bên trái, 夬 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ thủy 水, nghĩa là nước.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 氵 bên trái, 夬 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ thủy 水, nghĩa là nước.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 決 (21)
`Quyết` hiện đại chủ yếu thuộc `決`: (1) xét và định dứt một việc trong cách nói gọn hoặc trang trọng, như `chưa quyết`, `đã quyết đi`; (2) đứng trước động từ hay phủ định để nhấn ý chí chắc chắn: `quyết làm`, `quyết không bỏ cuộc` (*be determined to; definitely; under no circumstances* theo cấu trúc). Ý chí quyết làm không tự bảo đảm kết quả, đúng đắn, thẩm quyền hay quyền bỏ bước an toàn. Một đồng âm chuyên biệt thuộc `蕨` chỉ cây quyết, một loại dương xỉ; tên này không đủ để xác định chính xác loài, tính ăn được hoặc công dụng thuốc nếu thiếu danh pháp. Nhiều chữ khác cũng đọc quyết trong Hán văn nhưng không phải nghĩa độc lập thông dụng của đầu mục tiếng Việt hiện đại; tab chỉ giữ `決` và `蕨` có nét dùng rõ. Phân biệt với `quyết định` là động từ/danh từ đầy đủ, `quyết tâm` là sự dồn ý chí, `kiên quyết` nhấn thái độ không lùi và `nhất định` có thể chỉ dự đoán chắc. Lời Nam Bộ `nhứt quyết` là biến âm cũ/vùng của `nhất quyết`, không thay chính tả mục `quyết`.
Cách làm hay mà ít người biết, nhờ nó mới làm được việc khó hay làm giỏi hơn người.
Quyết một cách dứt khoát, mạnh bạo, không do dự; cũng nói chắc chắn quả quyết một điều.
`Quyết tử` là nhứt định chiến đấu hoặc hành động dù biết có thể phải chết, thường trong lịch sử, quân sự và văn chương: *be resolved to die; fight with readiness to sacrifice one's life*. Từ có sắc thái cực mạnh và thường gắn với khẩu hiệu/lời kể của một chủ thể; khi dẫn phải ghi nguồn và bối cảnh, không biến lời cổ động thành mô tả trung lập. `Quyết tử` không đồng nghĩa mọi hành động can đảm, không tự chứng minh cái chết là tất yếu, chính nghĩa hay lựa chọn duy nhứt. Trong lời hiện đại, không dùng nó để lãng mạn hóa ý nghĩ tự sát, ép người khác hy sinh hoặc cổ vũ hành vi nguy hiểm; các cách nói cường điệu như `làm quyết tử` nên đổi thành `làm hết sức` nếu không nói tình thế sống chết thiệt. Phân biệt `quyết tử` với `cảm tử` là sẵn sàng hy sinh trong nhiệm vụ, `tử chiến` là trận đánh tới chết, `liều chết` nhấn bất chấp mạng sống và `quyết chiến` là đánh trận phân cục diện nhưng không mặc nhiên tới chết. Lời Nam Bộ có thể nói `một sống một còn` trong cảnh cực hạn; không dùng nhẹ tay cho thi cử hay công việc. Tab ghi `決死`.
Tự mình định lấy và nhứt định làm một việc, không đợi ai biểu, không hỏi ý ai.
Nói chắc một điều và không lùi, hoặc cái vẻ chắc đó trên mặt.
Để hết lòng, nhứt định theo đuổi một việc hay một mục đích cho tới cùng, không đổi ý dù khó khăn, như quyết chí học, quyết chí làm ăn, quyết chí lập thân.
`Quyết đấu` là trực tiếp giao đấu hoặc đọ sức với đối thủ để phân thắng bại: *duel; fight it out; face off in a deciding contest*. Trong thể thao, từ dùng cho trận đấu đối kháng hay màn so tài có luật; trong truyện kiếm hiệp hoặc sử liệu, nó có thể chỉ cuộc đấu bằng vũ lực. Tên gọi không tự cho biết có vũ khí, đánh đến chết, hợp pháp hay an toàn. `Quyết đấu` khác `quyết chiến`: quyết đấu thường đặt hai bên/đối thủ vào cuộc đọ sức trực tiếp, còn quyết chiến nhấn trận có khả năng phân cục diện rộng hơn. Nó cũng khác `thi đấu` trung tính, `đấu chung kết` theo thể thức giải và `thách đấu` là đưa lời mời hoặc khiêu chiến, chưa chắc trận đã diễn ra. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `đấu một trận phân hơn thua`, `đọ sức trận chót` gần nghĩa tùy cảnh; không dùng để cổ vũ ẩu đả ngoài luật. Tab ghi `決鬥`.
Động từ là định chắc trong lòng, dồn hết ý chí để làm cho được một việc; danh từ chỉ ý chí đã định chắc như vậy.
Cả nhóm họp lại, mỗi người tỏ ý mình bằng lá phiếu hay giơ tay, rồi theo số đông mà định một việc.
Là mở cho xong một việc rối, nên nó luôn cần một cái khó đi trước, và trong truyện nó thường đứng ở thể phủ định.
Đã định thì làm cho tới, giữ vững ý mình, không lay chuyển.
Một mực, dứt khoát, đã định thì không đổi ý.
Định dứt sẽ làm việc gì sau khi đã tính tới tính lui; danh từ chỉ điều đã định như vậy; còn là định đoạt, có vai trò chính khiến sự việc thành ra thế nào.
Có tánh dứt khoát, dám định việc mau lẹ, lộ ra ở nét mặt, tướng mạo; động từ là định dứt một việc sẽ làm, hay phán đoán chắc chắn một điều là đúng hay sai.
Dứt khoát, cứng rắn tới cùng, không lay chuyển trong thái độ, lời nói, cử chỉ; nói về lúc, cuộc tranh chấp là gay go, tới hồi quyết định hơn thua.
`Quyết nghị` là động từ trang trọng chỉ một tập thể, hội đồng hoặc cuộc họp bàn bạc rồi đi đến quyết định chung, thường qua biểu quyết: *resolve; decide after deliberation; adopt by resolution*. Cấu trúc thường là `hội đồng quyết nghị + nội dung` hoặc `quyết nghị rằng`. Đây là từ có chứng tích `決議`, không phải lỗi chính tả; tuy nhiên phải phân biệt với `nghị quyết` là danh từ chỉ quyết định/văn bản được thông qua. Vì vậy `hội đồng quyết nghị thông qua phương án` có thể đúng, còn `ban hành một quyết nghị` trong tiếng Việt hành chính hiện đại thường cần xem lại xem người viết có định nói `nghị quyết` hay không. Việc quyết nghị không tự chứng minh đủ túc số, đúng thẩm quyền, nhất trí, hợp pháp hay đã có hiệu lực; phải đọc điều lệ, biên bản và văn bản liên quan. Từ này trang trọng, ít dùng trong hội thoại Sài Gòn và Nam Bộ; lời thường nói `bàn rồi chốt`, `cả nhóm biểu quyết rồi quyết`, nhưng không thay thuật ngữ trong trích dẫn chính thức. Tab ghi `決議`.
`Quyết toán` là đối chiếu chứng từ và số thực tế để chốt các khoản thu, chi, tạm ứng, nghĩa vụ hoặc giá trị đã thực hiện sau một kỳ, dự án hay hợp đồng: *finalize the accounts; financial closeout; final accounts*. Từ có thể là động từ (`quyết toán dự án`) hoặc danh từ trong `báo cáo/hồ sơ quyết toán`. Phạm vi và thủ tục thay đổi theo loại việc; định nghĩa từ vựng không thay quy định kế toán, thuế, ngân sách hay hợp đồng hiện hành. Hoàn tất bảng quyết toán không tự đồng nghĩa đã được phê duyệt, đã thanh toán hết, không còn sai sót hoặc đã qua kiểm toán. Phân biệt `quyết toán` với `thanh toán` là trả tiền, `kiểm toán` là kiểm tra và đưa ý kiến theo phạm vi, `tất toán` là kết thúc một tài khoản/khoản vay theo điều kiện và `đối chiếu` là so số liệu chưa chắc đã chốt. Lời Nam Bộ thường nói `chốt sổ`, `so lại rồi khóa sổ`; trong giấy tờ vẫn dùng đúng thuật ngữ quyết toán. Tab ghi `決算`.
Đã định thì cứng, không lay được; cũng là cái vẻ cứng đó trên mặt.
Chữ Hán 決戰: đánh, đọ sức một trận dứt khoát cho ra thắng bại, như bầy chó săn quyết chiến với con thú; nói rộng ra là trận chót dồn hết sức để giải quyết một việc, như trận quyết chiến với bịnh.
`Quyết thắng` là nhứt định dồn sức để giành phần thắng hoặc vượt qua đối phương: *be determined to win; victory-minded*. Từ thường gặp trong khẩu hiệu lịch sử và quân sự, thi đua và thể thao, hoặc làm định ngữ trong `tinh thần quyết thắng`. Nó diễn tả ý chí, không phải dự báo chắc chắn, kết quả đã đạt hay quyền gian lận, gây hại. Trong văn bản lịch sử, phải đặt khẩu hiệu và lời kêu gọi vô đúng chủ thể, thời điểm, nguồn; không biến tiếng nói của một bên thành tường thuật trung lập. Phân biệt `quyết thắng` với `chiến thắng` là kết quả thắng, `quyết tâm` rộng hơn mọi mục tiêu, `quyết chiến` nhấn trận phân cục diện và `hiếu thắng` là ham hơn người có thể mang sắc thái chê. Lời Nam Bộ `nhứt định thắng`, `ráng chơi cho hay`, `đá hết sức` gần nghĩa theo tình huống. Tab ghi `決勝`.