Âm: thảo
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 艹 ở trên, 化 ở dưới. Chữ nầy xếp vào bộ thảo 艸, nghĩa là cỏ.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 艹 ở trên, 化 ở dưới. Chữ nầy xếp vào bộ thảo 艸, nghĩa là cỏ.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 花 (31)
Âm cũ và Nam Bộ của hoa: chữ 花 trong huê viên, hát huê tình; huê lợi là lợi tức ruộng vườn; huê hồng là tiền hoa hồng; Huê Kỳ là nước Mỹ; chữ 華 trong Huê kiều là người Hoa ở xứ ngoài.
Là nhiều cái bông cột chung lại để tặng, nên nó khác chậu hoa và khác giỏ hoa ở chỗ nó là món đem cho.
Đẹp lộng lẫy, rực rỡ và sang trọng.
Hoa Kỳ, tức nước Mỹ, theo lối đọc Nam Bộ (hoa đọc thành huê): chỉ nước Mỹ, người Mỹ; đứng sau danh từ chỉ đồ từ Mỹ mà ra (xe Huê Kỳ, xoài Huê Kỳ); đèn huê kỳ là cây đèn dầu lửa có ống khói.
Là tiêu tốn cho cái đẹp cái sang quá mức cần, nên nó khác giàu ở chỗ nó là một nết chớ không phải một của.
Có duyên được nhiều đàn bà con gái để ý, thương mến; người ta cho đó là do số mạng.
Rộng rãi, lịch lãm, phong nhã và có dáng vẻ sang trọng, thường nói về đàn ông.
Người con gái được chọn là đẹp nhứt trong một cuộc thi sắc đẹp; cũng là danh hiệu của người đó.
Hoa và trái cây nói chung, nhứt là thứ dùng để cúng hay trồng trong vườn.
Tóc đen lẫn trắng, lấm tấm bạc, như người mới bắt đầu già.
Dạng Nam Bộ của hoa lợi (花利): sản vật và số lúa, số trái thâu được mỗi năm từ ruộng vườn, đất đai; nói rộng là nguồn lợi, khoản thu, kể cả số tiền tính ra từ đó.
`Say hoa` là lối nói cũ, uyển chuyển nhưng mang định kiến giới, dùng chê một người đàn ông quá mê đuổi theo phụ nữ hoặc chuyện quan hệ nam nữ (*womanizing, excessively infatuated with women*). `Hoa` là hình ảnh ẩn dụ cho phụ nữ trong cách nhìn văn chương cũ; không nên lấy cách gọi nầy làm tên trung tính cho phụ nữ hay lặp khuôn mẫu coi phụ nữ như đối tượng. Từ không tự chứng minh đã có quan hệ tình dục, ngoại tình, quấy rối, nghiện, phạm tội, thiếu đồng thuận hoặc khuynh hướng tình dục; muốn nói hành vi cụ thể phải nêu chứng cứ cụ thể. Nay rất hiếm ngoài văn học cũ và chú giải. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `mê gái` là cách gần nghĩa nhưng thô/chê và vẫn có định kiến; văn trung tính nên mô tả `thường theo đuổi nhiều phụ nữ`, `liên tục tán tỉnh` nếu dữ kiện cho phép. Phân biệt `say hoa` với `say hương hoa` là bị cuốn hút bởi mùi/cảnh hoa, một chuỗi tự do khác. Tab Hán Nôm để trống vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn cụm.
Giỏi mà có nét đẹp, nét bay bướm, nhứt là trong chuyện đờn ca, thơ văn, vẽ vời; cũng chỉ cái giỏi đó hay người có cái giỏi đó.
Là từng lá mỏng của một bông hoa, và người Nam Bộ còn dùng nó để gọi luôn cả bông, nên hái mấy cánh hoa là hái mấy bông.
Đèn kết hoa, đèn màu thắp sáng rực trong ngày hội; hay nói hội hoa đăng, đêm hoa đăng là đêm hội treo đèn kết hoa.
Là thứ dây leo cho bông mỏng như giấy, trồng phủ cổng và hàng rào, nên trong truyện cái cổng hoa giấy là một chỗ hẹn quen.
Thứ hoa có gai, cánh xếp nhiều lớp, và cũng là món tiền người trung gian được chia.
Người con gái đẹp nhứt trong một nhóm, một trường hay một vùng.
Quãng đời còn trẻ, tươi đẹp như bông mới nở; tuổi trẻ.
Người cầm lái hay chỉ đường cho tàu thuyền, máy bay đi đúng lối, khỏi đụng chạm.
Cách nói Nam Bộ và cách viết cũ của hoa hồng: khoản tiền trả cho người môi giới, người bán hộ hay người làm công, thường tính theo phần trăm số bán hay số lời.
Cách nói Nam Bộ và cách viết cũ của Hoa kiều 華僑: người Hoa sinh sống ở ngoài nước Tàu, nhứt là cộng đồng người Hoa làm ăn ở Chợ Lớn và các tỉnh miền Tây thời trước.
Cách nói Nam Kỳ cũ về tình ý trai gái, và nhứt là lối hát huê tình: câu hát giao duyên, đối đáp giữa trai gái trong sinh hoạt thôn quê, về sau góp phần sinh ra bản vọng cổ.
Sanh con, nói theo lối bóng bẩy, đẹp lời; người đàn bà mang thai tới lúc sanh thì gọi là tới ngày khai hoa.
Là thứ nước thơm xức lên mình, và trong truyện nó là cái dấu để người ta đoán ra thân phận hoặc ý tứ của một người đàn bà.
Khoảnh đất trồng hoa để ngó cho đẹp, trước sân nhà hay ngoài phố.
Thâu về phần lúa, phần tiền mà ruộng đất làm ra hay cho mướn ra mỗi năm; lối nói của nhà có ruộng ở Nam Bộ xưa.
Là lấy phần lời của ruộng đất về cho mình, và tiếng huê là lối Nam Bộ của tiếng hoa, nên cả cụm là một dấu giọng miền.
Được ăn phần lúa, tiền thâu từ ruộng đất, vườn tược hay gia tài mà không phải là chủ để bán hay chia, thường là suốt đời.
Nói người, thường là đàn ông, lịch lãm, rộng rãi, ăn nói và phong thái thanh nhã, dễ làm người khác mến phục.
Trêu hoa ghẹo nguyệt là thành ngữ văn chương cũ chỉ việc tán tỉnh, ve vãn hoặc buông lời đưa đẩy về tình cảm. Văn liệu đảo thành `ghẹo nguyệt trêu hoa`, rút thành `ghẹo nguyệt`, hoặc đổi một vế như `ghẹo nguyệt giỡn hoa`; các dạng đó phải còn cùng hành vi tán tỉnh mới được nối. Cách nói thường mang góc nhìn đánh giá của người kể, nhứt là trong xã hội cũ hay quy lời ve vãn vô khuôn phép nam nữ, nhưng cụm không tự cho biết người kia đáp lại, hai người có quan hệ, có ngoại tình, có tình dục hay có hành vi quấy rối. Nếu nhân vật đã từ chối hoặc bị làm phiền, phải gọi rõ việc không tôn trọng ranh giới thay vì dùng thành ngữ để làm nhẹ sự việc.