Hoa và trái cây nói chung, nhứt là thứ dùng để cúng hay trồng trong vườn.
Tiếng Anh: Flowers and fruit in general, especially those used as offerings or grown in a garden.
Giảng đủ và ghi chú cách dùng
Hoa và trái cây nói chung, nhứt là thứ dùng để cúng hay trồng trong vườn.
Các nét nghĩa, xếp theo mức thường gặp và hữu ích cho người học:
1 nét nghĩa🇻🇳 Kho văn hay dùng nó cho đồ cúng trên bàn thờ, đi với nhang đèn và hương đăng: mua hoa quả chưng dọn trên bàn thờ, nhang đèn hoa quả, đèn nhang huy hoàng hoa quả tinh khiết. Nó cũng chỉ cây trái trong vườn hay trái rừng để ăn đỡ lòng, như trong sân trồng hoa quả, ăn hoa quả đỡ lòng. Trong lời nói thường người Nam hay nói trái cây hơn.
🇬🇧 The corpus often uses it for altar offerings, paired with incense and candles: buying flowers and fruit to arrange on the altar, incense, candles, flowers and fruit, splendid incense and pure offerings of fruit. It also means garden plants or wild fruit eaten to stave off hunger, like a yard planted with flowers and fruit trees, eating wild fruit to get by. In everyday speech Southerners more often say the plain word for fruit.
Thí dụ:
Bà Hòa đã có mua hoa quả chưng dọn trên bàn thờ để cúng chung cha mẹ hai bên.
Ba Hoa had bought flowers and fruit to arrange on the altar to honour the parents of both sides.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Chị Đào, Chị LýNhang đèn, hoa quả trần thiết trên bàn thờ, bà con tề tựu đông đủ, thêm một số quan khách.
Incense, candles, flowers and fruit set out on the altar, relatives gathered in full, plus some guests.
Nguồn: Sơn Nam, Thuần Phong Mỹ Tục Việt NamGặp những đường rừng núi mênh mông thì họ ăn hoa quả đỡ lòng, gối đất nằm sương rất là vất vả.
Coming upon vast forest and mountain trails, they ate wild fruit to get by and slept on the ground in the dew, a very hard life.
Nguồn: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình, Chuyện Xưa Tích CủBao nhiêu lụa là, hoa quả di chuyển tòn ten, trong tầm tay.
All the silks and fruit swung about within reach.
Nguồn: Sơn Nam, Bà Chúa HònNó lên một sườn đồi, thỏa thích nó đùa với cỏ cây, hoa quả.
It climbed a hillside and played to its heart's content with the plants, flowers and fruit.
Nguồn: Thẩm Thệ Hà, Ông Nghè DêLễ cưới xong rồi, tối lại Thi-Đằng làm một cái lễ cúng Phật, đèn nhang huy-hoàng, hoa quả tinh-khiết.
After the wedding, that evening Thi Dang held a Buddhist offering, with splendid incense and pure flowers and fruit.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Dây oanTrời đã chạng vạng tối, mà lại mây giăng mù mịt trên nhành lá cây lợt sắc, trong vườn hoa quả phai màu.
Dusk had fallen, clouds hung thick over the pale leaves, and in the garden the flowers and fruit lost their colour.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Khóc thầmCũng như nói về hoa quả, tại nhiều tỉnh dưa đều đại khái chín vào mùa hạ, mà Nam Kỳ lại chín vào đông xuân.
As with fruit, in many provinces melons ripen in summer, while in the South they ripen in winter and spring.
Nguồn: Sơn Nam, Lịch Sử Khẩn Hoang Miền NamTrong sân trồng hoa quả, kiểng vật đủ thứ.
The yard was planted with flowers, fruit trees and ornamental plants of every kind.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Chút phận linh đinhThầy ở nhà anh là Hà Tấn Tài, đến Tết thầy xin phép anh chị dọn một cái bàn thờ phía chái trên rồi mua hoa quả mà cúng cha mẹ.
He lived at his brother Ha Tan Tai's house, and at Tet asked permission to set up an altar in the upper wing and bought flowers and fruit to honour his parents.
Nguồn: Hồ Biểu Chánh, Ở theo thờiTiếng này được dùng ra sao trong tác phẩm
“Bà Hòa đã có mua hoa quả chưng dọn trên bàn thờ để cúng chung cha mẹ hai bên.”“Nhang đèn, hoa quả trần thiết trên bàn thờ, bà con tề tựu đông đủ, thêm một số quan khách.”“Gặp những đường rừng núi mênh mông thì họ ăn hoa quả đỡ lòng, gối đất nằm sương rất là vất vả.”“Bao nhiêu lụa là, hoa quả di chuyển tòn ten, trong tầm tay.”“Nó lên một sườn đồi, thỏa thích nó đùa với cỏ cây, hoa quả.”“Lễ cưới xong rồi, tối lại Thi-Đằng làm một cái lễ cúng Phật, đèn nhang huy-hoàng, hoa quả tinh-khiết.”“Trời đã chạng vạng tối, mà lại mây giăng mù mịt trên nhành lá cây lợt sắc, trong vườn hoa quả phai màu.”“Cũng như nói về hoa quả, tại nhiều tỉnh dưa đều đại khái chín vào mùa hạ, mà Nam Kỳ lại chín vào đông xuân.”