Âm: thảo
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 3 phần: 艹 ở trên, 人 ở giữa, 朩 ở dưới. Chữ nầy xếp vào bộ thảo 艸, nghĩa là cỏ.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 3 phần: 艹 ở trên, 人 ở giữa, 朩 ở dưới. Chữ nầy xếp vào bộ thảo 艸, nghĩa là cỏ.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 茶 (15)
Món ngọt nấu bằng đậu, nếp, khoai, hột sen với đường, có khi thêm nước cốt dừa (chè đậu, chè thưng, nấu chè); cây trà và nước pha từ lá trà, cách gọi miền Bắc mà miền Nam thường nói trà (nước chè); còn rượu chè là thói nhậu nhẹt.
Chữ 茶: cây trà (Camellia sinensis) và lá, búp trà đã chế biến, mua bán theo gói; cũng là nước pha, chế từ lá đó để uống, như uống trà, rót trà, chế bình trà mới đãi khách.
Món chè ngọt nấu bằng đậu, như đậu đen, đậu xanh, nấu ăn trong nhà hay gánh đi bán rong.
Là rót nước sôi vô bình trà, nói theo lối Nam Bộ, và trong truyện nó gần như luôn là việc làm để đãi khách.
Chiếc bình dùng pha, đựng và rót trà (bưng bình trà, xách bình trà); lấy vật chứa gọi phần chứa, bình trà còn là một bình trà đã pha (chế bình trà, uống hết một bình trà).
Là cái chén nhỏ đựng trà và cũng là chính ngụm trà mời khách, nên nó là bước mở đầu của mọi cuộc nói chuyện.
Nước uống đã pha, hãm từ lá trà (trà là chữ 茶), rót ra chén, tách hay ly mà mời khách, uống nóng hay để nguội; chế nước trà là pha trà.
`Rượu chè` hiện nay thường là cách nói khẩu ngữ có sắc thái chê về việc ham uống rượu, uống thường xuyên hoặc quá độ (*habitual/excessive drinking; heavy drinking*): `ham rượu chè`, `suốt ngày rượu chè`, `rượu chè be bét`. Từ thể hiện đánh giá của người nói nhưng không tự chẩn đoán lệ thuộc/nghiện, không cho biết lượng và tần suất, nguyên nhân, việc bỏ bê trách nhiệm, bạo lực hay vi phạm; các điều đó phải có bằng chứng riêng. `Nhậu nhẹt` gần ở sắc thái chê, còn `nhậu` và `lai rai` có thể chỉ một dịp uống/giao tiếp mà chưa đủ thành rượu chè. Bản *Từ Điển Tiếng Việt* do NXB Hồng Đức/Nhân Văn phát hành năm 2008 còn ghi lớp cũ `rượu chè = rượu trà`, tức rượu và nước trà/đồ tiếp khách, cùng một nét đánh dấu vùng về việc ăn uống chơi bời; khi gặp văn bản cũ phải chọn nghĩa theo câu, không áp lời chê hiện đại máy móc. Trong tiếng Anh, dùng *heavy drinking, habitual drinking, drinking* cho nghĩa hiện nay; *liquor and tea/refreshments* chỉ cho nghĩa cũ có ngữ cảnh. Tab Hán Nôm để trống cho toàn cụm.
Cái tách nhỏ đựng nước trà, hay một tách nước trà để uống.
Là trà mới chế còn nóng, thứ dọn ra mời khách và cũng là thứ người ta uống thuốc kèm theo.
Địa danh Nam Bộ có gốc Khmer, giữa sông Tiền và sông Hậu gần biển: trong văn cũ là tỉnh Trà Vinh, chợ và tỉnh lỵ Trà Vinh cùng vùng đất đó; tỉnh cũ nay thuộc tỉnh Vĩnh Long.
Là uống thứ nước nấu từ lá trà, và trong nhà người Nam Bộ thì đó là cái lễ để tiếp khách chớ không riêng việc giải khát.
Là cái chén nhỏ uống trà, nói theo lối Nam Bộ, và nó cũng chỉ cả bộ đồ trà, nên nói bộ chung trà là nói cả bình và chén.
Nấu nước cho sôi rồi chế nước sôi vô bình mà pha trà, thường để mời khách, để cúng hay uống cho ấm bụng.
`Rượu sớm trà trưa` là thành ngữ/cụm hình ảnh cũ: sáng rượu, trưa trà, ngụ cảnh sống nhàn hạ, đủ đầy, có thì giờ hưởng thú thanh nhàn (*a life of morning wine and midday tea; a life of ease*). Trong ca dao, cụm thường đứng ở vế `người ta rượu sớm trà trưa` để tương phản với người phụ nữ phải đi nắng về mưa hoặc làm lụng vất vả; vì vậy sắc thái có thể chuyển từ miêu tả sang chua xót, phê bình bất công. Tuy nhiên bare phrase không tự chứng minh người được nói tới giàu, lười, là đàn ông, không lao động hay có lỗi; phải đọc đủ câu. Không dùng thành ngữ như lời khuyên uống rượu buổi sáng, không suy lượng/tần suất hoặc chẩn đoán nghiện. `Rượu sớm trà trưa` là biến thể gần nghĩa của `rượu sớm cờ trưa`, nhưng cần giữ đúng chữ khi trích ca dao/Kiều. Trong lời Nam Bộ hiện nay có thể giải bằng `sống nhàn tênh`, `ung dung`, `thảnh thơi`, không tô cụm cũ thành tiếng lóng Sài Gòn. Tab Hán Nôm để trống cho toàn cụm.