Nghĩa chữ
Chữ 摸 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 摸 (10)
Sờ, quờ tay tìm khi không thấy rõ (mò kiếm, mò cá, lần mò); đoán mò, nói mò là đoán, nói không có căn cứ; mò vô, mò tới là lần tìm tới; trong tò mò là muốn biết chuyện; tối mò là tối đen.
Đi hay làm một cách chậm chạp, lần mò, thường là lặng lẽ hay trong tối.
Là muốn biết cái không phải việc của mình, nên nó vừa là cái tánh vừa là cái việc, và nó có hơi hướng trách nhẹ.
Mò mẫm là dùng tay sờ soạng, lần bước chậm để tìm vật hay tìm lối khi không nhìn rõ.
Tối đen, tối lắm, không thấy đường; cũng chỉ lúc trời đã tối hẳn.
Là kiếm bằng tay chớ không bằng mắt, vì tối hoặc vì món đồ khuất, nên nó luôn hàm rằng người ta không thấy.
Lén lút núp theo dõi, dò xét người khác để biết chuyện hay để bắt quả tang.
Cái tánh thấy lạ thì muốn biết, muốn coi cho bằng được, kể cả chuyện không phải của mình.
`Mò cua bắt ốc` trước hết là cụm động từ chỉ việc lội ruộng, mương, bãi bùn hay mé nước để sờ tìm cua và nhặt ốc; tiếng Anh nên dịch cụ thể `catch crabs and gather snails by hand`. Từ hình ảnh lao động dầm nước, cụm được dùng như một thành ngữ gợi cảnh làm lụng nhọc nhằn, chắt chiu kiếm sống (`to toil`, `to scrape a living`), nhưng không phải hễ bắt cua ốc là nghèo khổ hoặc làm vì sinh kế: cũng có thể là kiếm thức ăn, nghề có kinh nghiệm hay hoạt động thư giãn. Cụm dùng trên nhiều vùng; ở Nam Bộ, ngữ cảnh tự nhiên có ruộng, kinh, mương, bưng và mùa nước, nhưng không gắn độc quyền với miền Nam. Không dùng hình ảnh này để hạ thấp nghề nông, gán thiếu học hoặc mặc định giới tính. Các câu ca dao dài hơn như `mò cua bắt ốc cho rêu bám đùi` là ngữ liệu liên quan chứ không phải toàn bộ định nghĩa. Chưa có chứng tích chữ cho cả cụm nên Hán Nôm để trống.
`Mò kim đáy bể` là thành ngữ ví một việc tìm kiếm hết sức gian nan, thiếu manh mối và hầu như không có hy vọng thành công. Hình ảnh gốc là sờ tìm vật rất nhỏ trong không gian nước mênh mông; trong tiếng Anh thường dùng thành ngữ tương đương `look for a needle in a haystack`, không cần dịch cứng thành đáy biển. `Mò kim đáy biển` và `tìm kim đáy bể` là các biến thể dễ hiểu, nhưng entry chọn dạng quen `mò kim đáy bể`. Không dùng cho mọi công việc chỉ hơi khó, và cũng không biến lời nói cường điệu thành kết luận rằng nhiệm vụ chắc chắn bất khả thi: khi đã có phạm vi, dữ liệu hoặc đầu mối tốt, người nói có thể bảo việc ấy không còn là mò kim đáy bể. Cụm dùng toàn quốc; thí dụ Sài Gòn và Nam Bộ nên đến từ tình huống thật như tìm địa chỉ cũ, hồ sơ thất lạc, chứ không gắn nhãn phương ngữ giả. Chưa có chứng tích chữ cho nguyên thành ngữ nên Hán Nôm để trống; không khẳng định một nguồn gốc Hán cụ thể chỉ từ cấu trúc tương đồng.