Âm: thanh
Bính âm (Pinyin): qīng
Màu xanh biếc của mây trời và cỏ non.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Bộ thứ 174 trong 214 bộ thủ Khang Hy (8 nét): Màu xanh biếc của mây trời và cỏ non.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Bộ thanh (青): Màu xanh biếc của mây trời và cỏ non.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 青 (40)
Người làm việc giấy tờ trong một sở thời trước, chức phải thi mới được.
Là làm ăn cực khổ và nó hằn ra trên áo trên da, nên nó nói cả cái nghèo lẫn cái siêng, khác nghèo suông.
Lạy van, nài nỉ hạ mình hết mức để xin người ta điều gì.
Loay hoay làm việc gì, có tiếng động khe khẽ (lục đục dưới bếp); quanh quẩn, ru rú ở nhà không đi đâu; lục tục kéo nhau theo sau; và bất hòa, xích mích với nhau.
Lục lạc là cái chuông nhỏ hay vật rỗng có hột bên trong, đeo ở cổ bò, cổ ngựa hay dây cương, khua lên thành tiếng khi con vật đi.
Là mở ra tìm khắp chỗ cho bằng được, nên nó khác tìm suông ở chỗ nó lật lên bới xuống, không nề nếp gì.
Màu xanh da trời nhạt, trong trẻo.
Tiếng nghe được, chữ trang trọng hơn chữ tiếng, dùng cho nhạc và cho cảnh.
Cây cối còn lá xanh tươi, nhứt là cây trồng dọc đường, trong phố hay quanh nhà cho bóng mát.
Ngôi chùa có tiếng; thường đi chung với thắng cảnh để nói chùa đẹp, nơi đẹp có tiếng.
Là thứ đậu hột nhỏ màu xanh, nấu cháo nấu chè, và ở Nam Bộ nó là món ăn bình dân nhứt, vừa ăn no vừa ăn chơi.
Tên Nam Bộ của cây thủy sinh nổi trôi từng giề trên sông rạch, lá xanh bông tím (bèo lục bình); và là tên chiếc bình lớn bằng sứ, gốm, dáng cao, chưng trên bàn thờ, trong nhà (cũng gọi lộc bình).
Lục lăng là hình có sáu cạnh, sáu góc, cách gọi cũ của lục giác; đá lục lăng là đá đẽo thành khối sáu cạnh.
Tìm kiếm kỹ khắp một chỗ, lật từng thứ ra xem, thường để tìm người, đồ vật hay chứng cớ.
Tiếng Hán Việt 六省, sáu tỉnh: sáu tỉnh Nam Kỳ thời Nguyễn (Nam Kỳ lục tỉnh), nói rộng là cả đất Nam Kỳ; trong lời người Sài Gòn xưa, dưới Lục Tỉnh còn là miệt tỉnh, thôn quê miền Nam đối với Sài Gòn.
Lục trần là thuật ngữ nhà Phật chỉ sáu cảnh bên ngoài mà sáu căn tiếp xúc: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; người tu phải gỡ, rửa lục trần mới giải thoát.
Màu của lá và của trời, một chữ tiếng Việt trùm cả hai màu tiếng Anh gọi riêng.
Nước da tái nhợt, ngả qua màu xanh, không còn chút hồng hào, thường vì đau ốm lâu ngày hay mệt mỏi.
Mặt trắng xanh ra, hết máu, vì sợ, vì giận hay vì đau.
Muốn lấy cho nhiều quá phần của mình, lấy rồi vẫn còn muốn nữa.
Người con gái còn trẻ, đã lớn; hay nói cặp với thanh niên để chỉ chung lớp trai gái trẻ.
Nói nước da hay gương mặt tái đi, xanh lợt, không còn chút hồng hào, vì bịnh, vì đói hay vì sợ.
Da dẻ tái xanh, thiếu máu, thiếu sức sống, thường vì đau ốm, mệt nhọc hay buồn khổ.
Trong sạch và ở trên cái tầm thường, nói về chí và về lối sống.
Coi nhẹ nhàng mà lịch sự, không thô không xẵng, từ tiếng nói tới dáng đi.
Thanh nhã, trong trẻo mà cao quý, không tầm thường; hay nói về giọng, tiếng đờn hay lời văn.
Bầu trời lúc quang đãng, màu xanh, thường làm nền cho mây, trăng, sao hay chim bay.
Nói về cây cỏ, xanh mướt và tươi tốt, đầy sức sống.
Hơi xanh, xanh nhè nhẹ, nhứt là khi nhìn từ xa; cũng đứng trong lối nói xanh xanh đỏ đỏ để tả nhiều màu lòe loẹt.
Tuổi trẻ, thời thanh xuân của một người, nhứt là người con gái.
Nhiều người cùng cất tiếng nói một lời, một lượt với nhau.
Truyền tiếng nói, âm nhạc qua sóng vô tuyến hay phát ra từ máy cho người nghe.
Trong trẻo, sạch sẽ; nói bầu trời quang đãng không mây, hay nói tấm lòng, cuộc sống trong sạch không vết nhơ.
Yên ổn, không có loạn lạc, người người sống êm đềm.
Đẹp một cách nhã nhặn, sang mà không lòe loẹt, thô kệch; nói về người, dáng điệu, cũng nói về cảnh vật.
Trong sạch trong việc công, không ăn hối lộ, không lấy của dân; thường nói về người làm quan, làm việc nhà nước.
Là người con trai còn trẻ, và trong văn Nam Bộ nó hầu như luôn chỉ một người chớ không chỉ cả lớp tuổi, nên nó cần một tiếng đếm ở trước.
Nhẹ nhõm, yên ổn trong lòng, không lo buồn, không vướng bận điều gì.
Vắng, lặng, trong sạch, không có gì làm xao.
Trả cho xong một khoản tiền; lo cho dứt một việc còn dang dở.