Xem chứng cứ

Nam Bộ có những lớp từ vay mượn nào?

Nam Bộ là vùng đất nhiều dân tộc sống chung từ lúc mở đất, nên tiếng Nam Bộ có nhiều lớp từ mượn hơn hẳn phần còn lại của vốn từ. Lớp Khmer đi vào qua đất đai, cây trái và nghề. Lớp Hoa đi vào qua món ăn và buôn bán ở Chợ Lớn và miền Tây. Lớp Pháp đi vào qua đồ vật và phố xá. Lớp Chăm và Mã Lai để lại dấu trong tên đất và tên vật.

Viết cho người nghiên cứu và sinh viên cần một bản đồ các lớp từ, và cho người Nam Bộ muốn biết vì sao trong tiếng mình có tía, có cà ràng, có xà bông.

Lớp từ vay mượn là gì?

Là nhóm từ đi vào một tiếng nói từ một tiếng nói khác, rồi được người bản ngữ dùng như từ của mình. Một lớp gồm nhiều từ cùng nguồn và thường cùng lĩnh vực, vì người ta mượn từ theo đồ vật, món ăn hay nghề mà mình học được từ người khác.

Vì sao Nam Bộ mượn nhiều từ?

Vì Nam Bộ là đất mới, nơi người Việt tới định cư muộn và sống chung với người Khmer, người Hoa, người Chăm và sau này với người Pháp. Ở đâu nhiều dân tộc buôn bán và ăn chung một mâm thì ở đó từ mượn nhiều, và Nam Bộ là vùng như vậy suốt ba trăm năm.

Lớp từ Khmer gồm những từ nào?

Gồm từ về đất đai, cây trái, đồ dùng và nghề ở miền Tây: thốt nốt, cà ràng, xà rông, bò hóc, sóc, phum, và nhiều tên đất. Lớp này nằm sâu nhất trong tiếng miền Tây, vì người Việt học nghề và học đất từ người Khmer đã ở đó trước.

Phần lớn từ Khmer vào tiếng Nam Bộ qua đường nói, không qua sách, nên hình dạng của chúng bị Việt hóa mạnh: thêm thanh điệu, đổi âm cuối, có khi rụng một âm tiết. Vì thế nhìn mặt chữ khó nhận ra gốc, phải đối chiếu với tiếng Khmer hiện đại và với địa danh.

cà ràng
Bếp lò bằng đất nung, đặt được trên ghe.
thốt nốt
Cây thốt nốt và đường thốt nốt, đặc sản vùng biên giới miền Tây.
xà rông
Váy quấn, đồ mặc của người Khmer, nay là từ chung.
sóc
Xóm, làng của người Khmer, còn trong tên đất Sóc Trăng.

Địa danh nào ở Nam Bộ gốc Khmer?

Nhiều tên tỉnh, tên huyện và tên sông ở miền Tây được các nhà địa danh học cho là gốc Khmer: Sóc Trăng, Trà Vinh, Sa Đéc, Cà Mau, Mỹ Tho, Cần Giờ. Mỗi tên có một cách giải thích được dẫn nhiều nhất, và một số tên còn tranh luận.

Cà Mau được giải thích là nước đen, chỉ vùng nước rừng tràm. Sa Đéc được giải thích là chợ sắt. Sóc Trăng có gốc là kho bạc theo cách giải thích thường gặp. Với địa danh, kết luận chỉ chắc khi có văn bản cũ chép cái tên ấy bằng chữ Khmer hoặc chữ Hán, nên từ điển ghi kèm mức chắc chắn.

Tiếng Triều Châu cho từ gì?

Cho từ về gia đình và món ăn, chủ yếu ở miền Tây nơi người Triều Châu định cư đông: tía là cha, hia là anh, chế là chị, và nhiều tên món như hủ tiếu, lạp xưởng, xá xíu. Lớp này vào sâu tới mức tía, hia, chế thành từ Việt trong nhiều gia đình không gốc Hoa.

tía
Cha, cách gọi đặc trưng của miền Tây.
hia
Anh, còn dùng trong gia đình gốc Hoa và vài vùng miền Tây.
chế
Chị, cùng đường với hia.
hủ tiếu
Món sợi gạo nước lèo, gốc tên Triều Châu, có thể qua tiếng Khmer.

Tiếng Quảng Đông cho từ gì?

Cho từ về ăn uống và trò chơi ở Sài Gòn và Chợ Lớn: xíu mại, há cảo, hoành thánh, tài xỉu, xí ngầu, bạc xỉu, xập xám, xì dầu. Người Quảng Đông làm nghề ăn uống nhiều nhất ở Chợ Lớn, nên tên món của họ thành tên món của cả Sài Gòn.

Nhiều từ trong lớp này còn giữ âm rất gần tiếng gốc vì mới vào chừng một trăm năm. Bạc xỉu, tài xỉu, xí ngầu là những từ chỉ có ở Nam Bộ và nghe là biết ngay Sài Gòn.

Lớp từ Pháp gồm những từ nào?

Gồm từ về đồ vật, nghề và phố xá của thời Pháp thuộc: xà bông, cà phê, sơ mi, ga, bót, bóp, xích lô, la de, bít tết, ốp la, ba tê, cà rem, sốp phơ, ba ga, lơ xe. Lớp này vào Sài Gòn trước rồi lan ra, và nhiều từ nay là từ chung của cả tiếng Việt.

Cách Việt hóa từ Pháp rất đều: bỏ phụ âm cuối không có trong tiếng Việt, thêm thanh, và cắt thành từng âm tiết. Savon thành xà bông, chemise thành sơ mi, chauffeur thành sốp phơ. Biết quy tắc này là đoán được gốc của phần lớn từ trong lớp.

Lớp từ Chăm và Mã Lai để lại gì?

Để lại một số từ về sông nước, cây trái và nghề biển, phần lớn đi qua đường buôn bán ven biển từ rất sớm: cù lao được nhiều nhà nghiên cứu cho là từ tiếng Mã Lai chỉ đảo, sầu riêng từ tên trái ấy trong tiếng Mã Lai, mã tà từ mata-mata chỉ người tuần canh. Lớp này mỏng và còn nhiều tranh luận.

Bình Nguyên Lộc từng đưa ra một giả thuyết rộng về lớp từ gốc Mã Lai trong tiếng Việt. Giả thuyết ấy được đọc như một hướng tìm, không phải kết luận, và với từng từ vẫn phải kiểm bằng chứng cứ riêng.

Từ mượn được Việt hóa ra sao?

Qua ba bước đều đặn: cắt thành âm tiết đơn, thay các âm không có trong tiếng Việt bằng âm gần nhất, và gán thanh điệu. Sau ba bước, từ mượn trông và nghe như từ Việt, tới mức người dùng quên gốc. Mức Việt hóa càng sâu thì từ càng cũ.

Nhìn mức Việt hóa đoán được tuổi của từ: cà ràng và cù lao Việt hóa rất sâu nên rất cũ; bạc xỉu và há cảo còn gần âm gốc nên mới hơn; những từ tiếng Anh của người trẻ hôm nay thì gần như chưa Việt hóa.

Vay mượn hay trùng âm: phân biệt thế nào?

Hai từ ở hai tiếng nói nghe giống nhau chưa chắc là mượn. Muốn khẳng định mượn cần ba thứ: nghĩa trùng hoặc gần, có đường tiếp xúc thật giữa hai cộng đồng, và từ mượn không giải thích được bằng chính tiếng Việt. Thiếu một trong ba thì chỉ nên ghi là có thể, không ghi là mượn.

Đây là chỗ nhiều sách phổ thông sai nhất, vì tìm được một từ nghe giống là kết luận ngay. Từ điển VietLayers ghi nguồn gốc kèm mức chắc chắn, và với từ chỉ có tiếng giống mà không có ba thứ trên thì ghi là chưa rõ.

Làm sao biết một từ mượn từ đâu?

Đối chiếu với tiếng gốc còn nói hôm nay, tìm chứng liệu sớm nhất của từ trong văn bản Việt, và xem lĩnh vực của từ có khớp với lĩnh vực mà cộng đồng ấy đóng góp không. Một từ về món ăn Chợ Lớn có gốc Quảng Đông thì hợp lý; cùng từ ấy gán gốc Khmer thì phải có chứng cứ mạnh hơn.

Từ mượn có bị coi là kém chuẩn không?

Không. Từ mượn đã Việt hóa là từ Việt, dùng trong mọi văn phong như từ khác. Cà phê, xà bông, cù lao, sầu riêng đứng trong văn bản nào cũng được. Điều cần cân nhắc chỉ là mức Việt hóa: từ chưa Việt hóa thì còn là từ ngoại, và dùng trong văn trang trọng cần dè dặt.

Từ mượn nào đã thành từ toàn dân?

Những từ chỉ đồ vật và món ăn đi khắp nơi: cà phê, xà bông, sơ mi, ô tô, xích lô, sầu riêng, hủ tiếu, lạp xưởng. Chúng vào tiếng Nam Bộ trước rồi theo hàng hóa và báo chí đi ra cả nước, và nay không còn ai thấy chúng là từ vùng miền.

Từ mượn nào chỉ còn trong tiếng Nam Bộ?

Những từ gắn với đồ vật, nghề hay cách gọi chỉ có ở vùng: la de, bót, mã tà, tía, hia, chế, cà ràng, bạc xỉu, tài xỉu. Một số là lời cũ, một số còn sống mạnh, và tất cả đều là dấu hiệu vùng rõ khi nghe.

bạc xỉu
Sữa nóng pha ít cà phê, món của Sài Gòn, gốc Quảng Đông.
tài xỉu
Trò đoán lớn nhỏ, gốc Quảng Đông, nay là từ chung ở Nam Bộ.
mã tà
Người tuần canh, lính cảnh sát thời cũ, gốc Mã Lai, nay là lời cũ.

Từ điển ghi nguồn gốc vay mượn thế nào?

Ghi tiếng gốc, dạng gốc nếu biết, đường đi vào tiếng Việt, và mức chắc chắn. Khi chưa đủ chứng cứ, từ điển VietLayers ghi là chưa rõ thay vì đoán, vì một nguồn gốc đoán sai sẽ được chép lại ở nhiều nơi và rất khó sửa.

Học lớp từ vay mượn để làm gì?

Để hiểu lịch sử của vùng qua tiếng nói, để dùng từ đúng sắc thái, và để không kết luận sai. Người viết biết từ nào gốc Hoa sẽ dùng nó đúng chỗ Chợ Lớn. Người nghiên cứu biết lớp nào mỏng, lớp nào dày sẽ biết chỗ nào cần chứng cứ mạnh hơn.

Đọc thêm công trình nào?

Về địa danh, đọc Lê Trung Hoa. Về từ trong đời sống Sài Gòn, đọc Vương Hồng Sển. Về lớp Mã Lai như một giả thuyết, đọc Bình Nguyên Lộc rồi kiểm lại từng từ. Và với mọi từ, đọc phần nguồn gốc trong mục từ, nơi ghi cả chứng cứ lẫn mức chắc chắn.

Từ nào ở đây đã có trong từ điển?

Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.

Dựa trên những công trình nào?

Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.

  • Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (1971). Công trình đưa ra giả thuyết về lớp từ gốc Mã Lai, nay được đọc như một giả thuyết cần kiểm chứng chứ không phải kết luận.
  • Lê Trung Hoa, Địa danh học Việt Nam (2006). Phương pháp tìm nguồn gốc địa danh, gồm nhiều địa danh Nam Bộ gốc Khmer.
  • Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa (1960). Dẫn nhiều từ gốc Hoa và gốc Pháp trong tiếng Sài Gòn kèm hoàn cảnh dùng.
  • Nguyễn Văn Ái, Từ điển phương ngữ Nam Bộ (1994). Ghi nguồn gốc của một số từ mượn ngay trong mục từ.

Đọc tiếp bài nào để hiểu cho đúng từng ý?

Hiểu cho đúng là lúc bạn hỏi chữ này là gì, dùng ở đâu và vì sao ông bà nói vậy. Bài ở bậc này giải thích một thuật ngữ hoặc một vấn đề trong bài đứng trên nó, rồi dẫn bạn về lại bài đó.

  • Lớp từ Khmer ở miền Tây

    Thốt nốt, cà ràng, xà rông, sóc, phum và nhiều tên đất: lớp từ Khmer là lớp mượn sâu nhất của tiếng miền Tây.

  • Lớp từ Hoa: Triều Châu và Quảng Đông

    Tía, hia, chế từ tiếng Triều Châu; xíu mại, tài xỉu từ tiếng Quảng Đông: lớp từ Hoa ở Nam Bộ có hai nguồn chính.

  • Lớp từ Pháp

    Xà bông, sơ mi, bót, la de, sốp phơ, bù lon: lớp từ Pháp vào Nam Bộ cùng đồ vật và nghề mới, Việt hóa theo quy tắc rất đều.

  • Lớp từ Chăm và Mã Lai

    Cù lao, sầu riêng, mã tà, chà và: lớp từ Chăm và Mã Lai ở Nam Bộ mỏng và còn nhiều tranh luận.

  • Vay mượn hay trùng âm

    Hai từ ở hai tiếng nghe giống nhau chưa chắc là mượn. Ba điều kiện để nhận một từ là mượn thật, các bẫy thường gặp, và cách từ điển ghi khi chưa đủ chứng cứ.

Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.