Hiểu cho đúng
Lớp từ Hoa gồm từ Triều Châu và từ Quảng Đông nào?
Lớp từ Hoa ở Nam Bộ không phải một lớp mà là hai, vì người Hoa đến từ hai nhóm nói hai tiếng khác nhau: người Triều Châu định cư nhiều ở miền Tây và làm nghề chợ, người Quảng Đông tập trung ở Chợ Lớn và làm nghề ăn uống. Từ Triều Châu vì thế nhiều về gia đình và chợ búa, từ Quảng Đông nhiều về món ăn và trò chơi.
Viết cho người nghiên cứu lớp từ mượn, và cho người gốc Hoa ở Nam Bộ muốn thấy tiếng nhà mình trong tiếng Việt.
Người Hoa ở Nam Bộ gồm những nhóm nào?
Năm nhóm chính theo quê gốc và tiếng nói: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ và Hải Nam. Hai nhóm đông nhất và góp từ nhiều nhất là Quảng Đông ở Chợ Lớn và Triều Châu ở miền Tây. Mỗi nhóm có hội quán, có nghề, và góp từ theo nghề của mình.
Người Triều Châu ở đâu và làm nghề gì?
Ở nhiều nhất tại miền Tây: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ, Trà Vinh, và một phần ở Chợ Lớn. Họ làm nghề chợ, tạp hóa, ruộng rẫy và buôn lúa gạo. Vì sống xen với người Việt ở nông thôn nên từ của họ vào tiếng miền Tây rất sâu.
Từ Triều Châu gồm những từ nào?
Từ về gia đình: tía là cha, hia là anh, chế là chị, muội là em gái. Từ về món ăn: hủ tiếu, lạp xưởng, bò bía. Tía đã thành từ miền Tây chung, dùng trong nhiều nhà không gốc Hoa; hia, chế còn giữ trong gia đình gốc Hoa và ở vài vùng.
- tía
- Cha; từ chung của miền Tây, không chỉ trong nhà gốc Hoa.
- hia
- Anh; dùng trong gia đình gốc Hoa và vài vùng miền Tây.
- chế
- Chị; cùng đường với hia.
- bò bía
- Cuốn bánh tráng nhân củ sắn và lạp xưởng, món ăn chơi.
Người Quảng Đông ở đâu và làm nghề gì?
Ở Chợ Lớn và các phố buôn của Sài Gòn, làm nghề ăn uống, nhà hàng, tiệm nước, và buôn bán lớn. Vì làm nghề ăn uống nên tên món của họ thành tên món của cả Sài Gòn, và từ của họ đi vào qua thực đơn hơn qua gia đình.
Từ Quảng Đông gồm những từ nào?
Từ về món ăn: xíu mại, há cảo, hoành thánh, xá xíu, sủi cảo, bạc xỉu, tả pín lù. Từ về trò chơi và tiền: tài xỉu, xí ngầu, xập xám, lì xì. Lớp này mới hơn lớp Triều Châu ở miền Tây và còn giữ âm gần tiếng gốc.
- xíu mại
- Viên thịt hấp, điểm tâm tiệm nước.
- tài xỉu
- Lớn nhỏ, trò đoán xúc xắc.
- lì xì
- Phong bao đỏ mừng tuổi, nay là từ cả nước.
- tả pín lù
- Lẩu kiểu Quảng Đông, nhúng đồ sống tại bàn.
Làm sao biết một từ là Triều Châu hay Quảng Đông?
Bằng ba dấu hiệu: lĩnh vực của từ, nơi từ phổ biến, và đối chiếu âm với hai tiếng gốc. Từ gia đình phổ biến ở miền Tây thường là Triều Châu. Từ món ăn phổ biến ở Chợ Lớn thường là Quảng Đông. Đối chiếu âm là bước quyết định, và cần người biết hai tiếng ấy.
Có từ nào cả hai nhóm cùng góp không?
Có, vì hai tiếng có nhiều từ chung gốc chữ Hán và hai cộng đồng sống gần nhau. Với từ như vậy, từ điển ghi là gốc Hoa và nói rõ chưa tách được nhóm, thay vì gán bừa cho một bên.
Nhóm Phúc Kiến, Hẹ, Hải Nam góp gì?
Ít hơn, và phần lớn qua tên hội quán, tên tiệm và vài món ăn. Người Hải Nam có nghề tiệm cà phê và cơm gà; người Phúc Kiến có nghề buôn lớn. Lớp từ của ba nhóm này mỏng và chưa được ghi nhiều.
Từ Hoa được Việt hóa tới đâu?
Tùy tuổi của từ. Tía, lạp xưởng, lì xì đã Việt hóa sâu, có thanh điệu ổn định và ghép tự nhiên. Bạc xỉu, xí ngầu, há cảo còn gần âm gốc vì mới vào chừng một trăm năm. Mức Việt hóa là dấu hiệu tuổi của từ.
Hủ tiếu là Triều Châu hay Khmer?
Được cho là tên gốc Triều Châu, có thể đi vào tiếng Việt qua tiếng Khmer, vì món này phổ biến ở cả người Khmer và người Hoa miền Tây. Từ điển ghi cả hai chặng và nói rõ chặng nào chắc hơn. Đây là ví dụ cho việc một từ có thể đi qua hai tiếng trước khi tới tiếng Việt.
Người không gốc Hoa dùng lớp từ này thế nào?
Dùng gần hết phần món ăn và trò chơi, và dùng tía ở miền Tây. Phần gia đình như hia, chế, muội thì ít dùng, trừ khi thân với gia đình gốc Hoa. Từ điển đánh nhãn vùng và nhãn cộng đồng cho phần này.
Cách gọi người Hoa nào nên tránh?
Những cách gọi cũ mang ý coi thường, còn trong sách xưa. Hôm nay gọi là người Hoa, và cụ thể là người Triều Châu, người Quảng Đông. Trích văn cũ có cách gọi ấy thì giữ nguyên câu trích và chú thích.
Từ điển ghi lớp từ Hoa thế nào?
Ghi tiếng gốc là Triều Châu hay Quảng Đông khi tách được, ghi gốc Hoa khi chưa tách được, ghi dạng gốc nếu có, và ghi nhãn vùng là Sài Gòn hay miền Tây. Từ điển VietLayers không gán nhóm khi chỉ có tiếng nghe giống.
Nghe hai lớp này ở đâu?
Lớp Quảng Đông ở tiệm ăn Chợ Lớn. Lớp Triều Châu ở chợ và trong nhà ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ. Ở cả hai nơi, người lớn tuổi gốc Hoa nói tiếng Việt xen tiếng của nhóm mình là nguồn quý nhất.
Nên đọc gì thêm?
Vương Hồng Sển về Chợ Lớn và các nhóm người Hoa, và phần nguồn gốc trong từng mục từ. Người muốn đi sâu nên học đủ tiếng Quảng Đông hoặc Triều Châu để tự đối chiếu, vì đó là bước không ai làm thay được.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
Dựa trên những công trình nào?
Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.
- Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa (1960). Kể các nhóm người Hoa ở Chợ Lớn theo quê gốc và nghề, kèm từ ngữ.
Cùng giải thích cho bài Nam Bộ có những lớp từ vay mượn nào, còn bài nào?
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.