Âm: hộ
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 戶 bên trái, 斤 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ hộ 戶, nghĩa là cửa một cánh.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 戶 bên trái, 斤 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ hộ 戶, nghĩa là cửa một cánh.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 所 (24)
Chữ 所: nơi làm việc, cơ quan (đi sở, tan sở, sở làm); sở cao su là đồn điền trồng cao su; thành tố trong sở thích, sở hữu, sở dĩ. Chữ 楚: đau khổ trong khổ sở, và tên nước Sở thời xưa bên Tàu.
Chỗ được gầy dựng lên để làm ăn hay làm việc lâu dài, như sở, vườn, đất đai; cũng là cái nền để từ đó làm tới.
Là cái lẽ khiến ra như vậy, và nó luôn nằm trong một khuôn: sở dĩ điều nầy là vì lẽ kia, nên nó mở câu và chữ vì đóng câu.
Chỗ quê mình, nơi mình sanh ra, có bà con có mồ mả ông bà.
Khổ mà kéo dài, cái khổ làm người ta rã ra chớ không phải một cú đau.
Một khoảnh đất lớn có ranh, có giấy, thuộc về một người.
Cái thuộc về mình, quyền làm chủ một vật hay một người theo luật hay theo lòng.
Chỗ mình đi làm hằng ngày, cũng là cái việc làm có lương mà mình đang giữ.
Hết giờ làm việc ở sở, lúc công chức, người làm việc văn phòng ra về.
Nhà làm việc của nhà nước; ở làng quê Nam Bộ xưa là nhà việc, chỗ hương chức làng ngồi làm việc.
Mua sắm, chuẩn bị đủ đồ đạc cần dùng cho một việc.
Sắp làm một việc, đang ở ngay trước lúc làm; cũng có nghĩa là sửa soạn, lo sẵn một món gì.
Là khu vườn cây ăn trái làm ăn lớn, tiếng Nam Bộ, nên nó khác cái vườn ở chỗ nó là một cơ ngơi có huê lợi.
Đổi lại cho khác, cho nên hơn, nói về nếp, về tánh, về câu hát.
Một khu ruộng lớn thuộc về một chủ, thường ở xa nhà, cho tá điền mướn hay mướn người làm.
Cái mình ưa, cái mình lấy làm vui mà theo.
Làm cho cái hư lành lại, cái sai đúng lại, cái cũ tốt lại.
Là làm lại cho tươm tất hơn, không phải vá chỗ hư mà là dọn cho coi được, nên nó nhắm cái mặt ngoài.
Là dọn sẵn mọi thứ trước khi làm một việc hoặc trước khi đi đâu, gồm cả việc thay đồ chải chuốt cho tề chỉnh.
Đồn điền trồng cây cao su để lấy mủ, lối gọi quen của người Nam Bộ, sở ở đây là khu đất làm ăn của một chủ.
Cắt lá, tỉa nhánh, uốn thế cho mấy cây kiểng trồng trong sân, trong vườn, để cây gọn gàng và đúng dáng.
Lo sửa sang quần áo, đồ đạc cho sẵn để ra đi đâu đó hay để đi làm một việc gì.
Quyền làm chủ một món đồ, một miếng đất hay một tài sản, được coi là của mình và do mình định đoạt.
`Mưa Sở mây Tần` là điển cố văn chương cũ, dùng như một lối nói trang nhã về cảnh ái ân hoặc quan hệ thân xác (`a literary euphemism for sexual intimacy`). Cụm nổi tiếng trong *Truyện Kiều*, gợi tích mây và mưa ở Cao Đường, Vu Sơn, liên quan vua nước Sở và thần nữ; đây là lớp điển cố để hiểu văn bản, không phải câu tả thời tiết. Trong tiếng Việt hiện đại, cụm hiếm ngoài bình giảng, chú giải hoặc văn phong cố ý cổ kính. Cụm tự nó không cho biết quan hệ đó có đồng thuận hay không, thuộc hôn nhân hay ngoài hôn nhân, diễn ra giữa những ai, hợp pháp hay bị cưỡng ép; mọi kết luận như vậy phải dựa vô văn cảnh. Không dùng các nhãn miệt thị để giải nghĩa và không coi điển cố là bằng chứng về phẩm giá của nhân vật. Nguồn hiện có giải tích `mưa Sở` rõ hơn phần ghép `mây Tần`; hệ thống không dựng một chuỗi chữ Hán nguyên khối hoặc một tích riêng cho `Tần`, nên tab chữ để trống.