Hiểu cho đúng
Tiếng Sài Gòn thời báo chí quốc ngữ là thế nào?
Năm 1865, tờ báo quốc ngữ đầu tiên ra ở Sài Gòn, và từ đó tiếng nói của thành phố được in ra đều đặn: tin, chuyện, quảng cáo, thư bạn đọc, rồi tiểu thuyết. Đây là thời tiếng Sài Gòn có mặt chữ, và là thời chứng liệu về tiếng Nam Bộ bắt đầu có ngày tháng.
Viết cho người nghiên cứu cần mốc thời gian, và cho người Sài Gòn muốn biết tiếng mình được in ra từ bao giờ.
Thời báo chí quốc ngữ ở Sài Gòn bắt đầu từ đâu?
Từ năm 1865, khi tờ báo quốc ngữ đầu tiên ra đời tại Sài Gòn. Trương Vĩnh Ký là người viết chính của tờ báo trong nhiều năm, và Huình Tịnh Của cũng góp bài. Đây là lần đầu tiếng nói Sài Gòn được in ra đều đặn cho người đọc.
Vì sao báo chí quốc ngữ ra ở Sài Gòn trước?
Vì Sài Gòn là nơi chữ quốc ngữ được dùng rộng sớm nhất, có nhà in sớm nhất, và có lớp người đọc đầu tiên là thầy ký, thầy giáo, người buôn bán. Ba điều ấy gặp nhau ở Sài Gòn giữa thế kỷ 19, và báo ra đời ở đó.
Những tờ báo nào đáng nhớ?
Tờ báo 1865 đứng đầu, rồi tới các tờ đầu thế kỷ 20 chuyên về kinh tế, về Lục tỉnh, và tờ báo phụ nữ ra năm 1929. Mỗi tờ cho một lớp từ: kinh tế cho từ buôn bán, phụ nữ cho từ gia đình và thời trang. Bùi Đức Tịnh có khảo cứu đủ về các tờ này.
Báo thời ấy in tiếng Sài Gòn ra sao?
In gần với lời nói: chơn, nhơn, sanh, nhựt, thiệt đứng ngay trong bài, câu ngắn, xưng hô như ngoài chợ. Người viết thời ấy chưa có mẫu văn viết nào khác ngoài lời nói, nên họ viết như nói, và đó là may mắn cho người nghiên cứu hôm nay.
Lớp từ nào là của thời in ấn?
Từ về chính bản thân báo chí và in ấn: nhựt trình, nhựt báo, tòa soạn, nhà in, quảng cáo, cáo bạch, mục, kỳ, số. Và từ về nghề mới: thầy ký, thầy thông, thầy giáo, nhà dây thép. Nhiều từ trong lớp này còn dùng, một số thành lời cũ.
- nhựt trình
- Tờ báo, cách gọi cũ; nhựt là nhật đọc theo lối Nam Bộ.
- cáo bạch
- Thông báo in trên báo, nay là lời cũ.
- thầy ký
- Người làm việc giấy tờ ở sở, nghề mới của thời ấy.
- nhà dây thép
- Bưu điện, cách gọi cũ theo đường dây điện tín.
Tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên ra ở đâu?
Ở Sài Gòn, cuối thế kỷ 19, với một truyện ngắn dài in năm 1887 thường được coi là tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên. Từ đầu thế kỷ 20, tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên báo rồi in thành sách, và Hồ Biểu Chánh là tên lớn nhất của dòng này.
Từ điển đầu tiên của tiếng Nam Bộ ra khi nào?
Năm 1895 và 1896, hai tập Đại Nam Quấc âm tự vị của Huình Tịnh Của in tại Sài Gòn. Đây là từ điển ghi tiếng nói Nam Bộ bằng chữ quốc ngữ với đầu mục theo cách đọc của vùng, và là chứng liệu sớm nhất còn dùng được cho rất nhiều từ.
Người Sài Gòn thời ấy đọc báo thế nào?
Đọc chung: một người biết chữ đọc to cho cả nhà hoặc cả quán nghe. Vì thế tiếng in trên báo đi vào tai nhiều hơn vào mắt, và cách nói của báo lan ra lời nói thường ngày. Đây là cách báo góp phần định hình tiếng Sài Gòn.
Báo cũ dùng làm chứng liệu thế nào?
Rất tốt, vì có ngày tháng chính xác: một từ trên số báo ngày nào là có mốc ngày ấy. Khi trích, ghi tên báo, số, ngày, trang, và giữ nguyên chính tả. Bản chụp của báo cũ là nguồn sơ cấp, còn bản đánh máy lại là nguồn thứ cấp đã có thể bị sửa.
Tìm báo cũ ở đâu?
Ở thư viện lớn có kho báo cũ và ở các bộ sưu tập chụp lại của thư viện. Với người nghiên cứu, chọn một tờ và một khoảng năm rồi đọc trọn là cách hiệu quả hơn tìm rải rác, vì mỗi tờ có giọng riêng và lớp từ riêng.
Chính tả của báo cũ có khác hôm nay không?
Có nhiều chỗ: dạng Nam Bộ ở từ Hán Việt, dấu hỏi ngã đặt khác, i y theo lối y, và cách viết một số từ mượn chưa ổn định. Những chỗ khác này chính là chứng liệu về cách viết của thời ấy, nên không sửa khi trích.
Tiếng Sài Gòn trên báo và tiếng Sài Gòn ngoài chợ có giống nhau không?
Gần nhau hơn bất kỳ thời nào sau này, vì người viết chưa có văn viết riêng để theo. Nhưng báo vẫn chọn lọc: ít từ thô, nhiều từ Hán Việt hơn ngoài chợ, và có lớp từ mới của in ấn mà chợ chưa dùng.
Thời này để lại gì cho tiếng Sài Gòn hôm nay?
Để lại mặt chữ cho lớp âm Nam Bộ, một kho chứng liệu có ngày tháng, lớp từ về báo chí và nghề giấy tờ, và một thói quen viết như nói mà văn xuôi Nam Bộ giữ mãi về sau. Nhiều nét của tiếng Sài Gòn hôm nay đọc được trong báo từ thời ấy.
Vì sao gọi là nhựt trình?
Vì nhựt là nhật, ngày, đọc theo lối Nam Bộ, và trình là bản trình bày; nhựt trình là bản tin hằng ngày, tức tờ báo. Chữ nhựt ở đây cùng đường âm với nhứt: ât thành ứt. Nhựt trình là ví dụ đẹp cho việc lớp âm Nam Bộ đi thẳng vào từ mới của thời in ấn.
Nên đọc gì để cảm thời này?
Đọc Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký để thấy văn quốc ngữ buổi đầu viết như nói, đọc vài số của tờ báo 1865 qua bản chụp, và đọc khảo cứu của Bùi Đức Tịnh để có bức tranh chung. Ba thứ ấy đủ để hiểu tiếng Sài Gòn khi mới lên mặt chữ.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
- nhựt trình
- nhựt báo
- tòa soạn
- quảng cáo
- cáo bạch
- nhà in
- tiểu thuyết
- thầy ký
Dựa trên những công trình nào?
Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.
- Bùi Đức Tịnh, Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (1992). Khảo cứu về báo chí và tiểu thuyết quốc ngữ buổi đầu, phần lớn diễn ra ở Sài Gòn.
- Trương Vĩnh Ký, Chuyện đời xưa (1866). Một trong những quyển sách quốc ngữ đầu tiên in ở Sài Gòn, kể chuyện bằng tiếng nói thường ngày.
Cùng giải thích cho bài Tiếng Sài Gòn hình thành và biến đổi thế nào, còn bài nào?
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.