Xem chứng cứ

Tiếng Sài Gòn hình thành và biến đổi thế nào?

Tiếng Sài Gòn là tiếng Nam Bộ nói ở một thành phố cảng, nơi hơn ba trăm năm qua người từ khắp nơi tới buôn bán, in sách, mở trường và dựng sân khấu. Mỗi lớp người tới góp một lớp từ.

Viết cho người Sài Gòn muốn biết tiếng mình từ đâu tới, cho người viết cần dùng đúng lớp từ của từng thời, và cho người nghiên cứu cần mốc thời gian.

Tiếng Sài Gòn là gì?

Là lớp tiếng đô thị bên trong tiếng Nam Bộ: cùng hệ âm, cùng vốn từ gốc, nhưng thêm những lớp từ của buôn bán, báo chí, trường học, sân khấu và người nhập cư từ nhiều vùng. Nó là một phần của tiếng Nam Bộ, không phải toàn bộ, và đổi nhanh hơn tiếng miền Tây.

Người miền Tây lên Sài Gòn nghe ra ngay giọng thành phố: nhẹ hơn ở đầu tiếng, nhiều từ mới hơn, và nhiều từ mượn hơn. Người Sài Gòn về miền Tây thì nghe ra giọng quê: uốn lưỡi rõ hơn, kéo hơn, và còn nhiều từ cũ.

Tiếng Sài Gòn có từ bao giờ?

Từ khi đất Gia Định có làng xóm và chợ, tức là cuối thế kỷ 17 và thế kỷ 18, khi người Việt tới định cư đông ở vùng Bến Nghé và Sài Gòn. Từ đó nơi này là chợ lớn và bến lớn của cả vùng, và tiếng nói ở đây bắt đầu nhận từ của mọi người tới buôn bán.

Địa chí Gia Định thành thông chí đầu thế kỷ 19 đã chép tên đất, tên chợ, tên rạch của vùng này, và nhiều cái tên ấy vẫn còn dùng nguyên hôm nay. Đó là mốc sớm nhất có văn bản để nói về tiếng Sài Gòn.

Chữ quốc ngữ và báo chí đã làm gì cho tiếng Sài Gòn?

Cho nó một mặt chữ. Tờ báo quốc ngữ đầu tiên ra ở Sài Gòn năm 1865, và từ đó tiếng nói Sài Gòn được in ra đều đặn: tin tức, chuyện kể, quảng cáo, thư bạn đọc. Cách nói của người Sài Gòn thành cách viết, rồi cách viết ấy lan ra cả Nam Kỳ qua báo và sách.

Đây là lý do văn xuôi quốc ngữ đầu tiên mang giọng Nam Bộ: người viết đầu tiên là người Sài Gòn và Gia Định, viết cho người đọc Nam Kỳ, bằng chữ vừa mới phổ biến. Hai cái tên đứng đầu thời này là Trương Vĩnh Ký và Huình Tịnh Của, một người làm báo, một người làm từ điển.

Chợ Lớn góp gì vào tiếng Sài Gòn?

Góp lớp từ Hoa, chủ yếu từ tiếng Quảng Đông và tiếng Triều Châu, đi vào qua món ăn, buôn bán và trò chơi: xíu mại, há cảo, hoành thánh, lạp xưởng, tài xỉu, xí ngầu, bạc xỉu, xập xám. Chợ Lớn là phố buôn của người Hoa từ thế kỷ 18, và tiếng Sài Gòn nhận từ của họ qua từng bữa ăn.

Nhiều từ này nay là từ Việt hẳn, người dùng không còn nghĩ tới gốc. Bạc xỉu là món cà phê sữa của riêng Sài Gòn, và cái tên là tiếng Quảng Đông nói gọn của sữa nóng pha chút cà phê.

Tiếng Pháp để lại gì trong tiếng Sài Gòn?

Để lại một lớp từ về đồ vật, nghề và phố xá của thời Pháp thuộc: xà bông, bót, ga, bóp, sơ mi, xích lô, la de, bít tết, ốp la, ba tê, cà rem, sốp phơ, cà phê. Phần lớn vào tiếng Sài Gòn trước rồi mới lan ra, vì Sài Gòn là nơi đồ vật và nghề mới tới trước.

Có từ sống rất khỏe như cà phê, xà bông, sơ mi. Có từ nay chỉ còn người lớn tuổi dùng như la de, bót, sốp phơ. Đọc một câu có bót và la de là biết người nói lớn lên ở Sài Gòn giữa thế kỷ 20.

bót
Đồn, trạm, từ poste; nay là lời cũ.
la de
Bia, từ la bière; nay là lời cũ.
bóp
Ví da, từ portefeuille nói gọn; còn dùng rộng.
xích lô
Xe ba bánh chở khách, từ cyclo; còn dùng.

Cải lương và đờn ca tài tử ảnh hưởng thế nào?

Cho tiếng Sài Gòn một kho lời thoại và lời ca được nghe đi nghe lại khắp Nam Bộ suốt thế kỷ 20. Cải lương ra đời ở Nam Bộ đầu thế kỷ 20 và lấy Sài Gòn làm sân khấu lớn, nên cách nói trên sân khấu Sài Gòn thành cách nói mẫu của cả vùng.

Nhiều cách nói cũ như qua, bậu, chàng, thiếp còn sống là nhờ cải lương. Và nhiều người xa quê học lại giọng Nam Bộ cho con mình bằng cách mở cải lương.

Sài Gòn nửa sau thế kỷ 20 nói thế nào?

Nói tiếng của một thành phố lớn nhanh: đông người từ các tỉnh lên, nhiều nghề mới, nhiều đồ vật mới, và phát thanh, băng đĩa lan giọng Sài Gòn đi khắp nơi. Lớp từ của thời này là xe lam, xích lô máy, rạp hát, tiệm nước, quán cóc, chợ trời, và cách nói nhanh, gọn hơn thời trước.

Đây cũng là thời tiếng Sài Gòn bắt đầu tách rõ khỏi tiếng miền Tây: người thành phố nói nhẹ hơn, dùng nhiều từ mượn hơn, và bỏ dần một số từ nghề nông và sông nước.

Từ cũ nào của Sài Gòn nay ít gặp?

Những từ gắn với đồ vật và nghề đã mất: xe lam, xích lô máy, la de, bót, mã tà, đèn măng sông, tiệm nước, rạp chớp bóng. Chúng còn trong lời người lớn tuổi, trong sách của Vương Hồng Sển, và trong từ điển với nhãn lời cũ.

xe lam
Xe ba bánh chở khách chạy tuyến ngắn, nay không còn.
mã tà
Lính cảnh sát thời cũ, từ tiếng Mã Lai mata-mata.
tiệm nước
Quán cà phê kiểu người Hoa, bán cà phê, trà và điểm tâm.
rạp chớp bóng
Rạp chiếu phim, cách gọi giữa thế kỷ 20.

Từ nào của Sài Gòn thời mở cửa?

Từ cuối thập niên 1980 trở đi, khi buôn bán và xây dựng bùng lên, tiếng Sài Gòn nhận thêm lớp từ của phố xá mới: kẹt xe, xe ôm, chung cư, lô cốt, quán nhậu, cà phê bệt, hàng hiệu, xịn. Nhiều từ trong lớp này sau đó lan ra cả nước qua báo và mạng.

Cà phê bệt là ví dụ đẹp: bệt là ngồi phệt xuống đất, và cà phê bệt là uống cà phê ngồi trên vỉa hè công viên. Từ này sinh ở Sài Gòn và chỉ có nghĩa ở nơi có vỉa hè để ngồi.

Người trẻ Sài Gòn tạo từ mới ra sao?

Bằng ba cách: đổi nghĩa từ cũ, ghép từ cũ thành cụm mới, và mượn rồi nói gọn. Chảnh, quẩy, bao, xịn, sang chảnh, nhây, dữ chưa là lớp từ đi qua đường này, sinh ra trong nhóm bạn và trên mạng, rồi lan nhanh hơn bất kỳ lớp từ nào trước đó.

Bao là ví dụ của đổi nghĩa: từ bao thầu, bao trọn, nay thành bao ngon, bao đẹp, nghĩa là chắc chắn ngon, chắc chắn đẹp. Từ điển ghi lớp này với nhãn thân mật và nhãn người trẻ, và ghi năm bắt đầu gặp để người sau biết nó mới.

chảnh
Kiêu, làm cao; nghĩa mới của người trẻ.
xịn
Tốt, hàng thật, đẳng cấp.
quẩy
Chơi hết mình, nhảy múa.
bao
Chắc chắn, đảm bảo: bao ngon, bao rẻ.

Địa danh Sài Gòn có nghĩa gốc gì?

Phần lớn địa danh cũ của Sài Gòn là tên rạch, tên chợ, tên người và tên nghề: Bến Nghé là bến có nghé, Thị Nghè là bà vợ ông nghè, Bà Chiểu là tên một người, Chợ Quán là chợ có quán, Cầu Kho là cầu gần kho lúa, Xóm Chiếu là xóm dệt chiếu. Đọc tên đất là đọc được đời sống cũ.

Có tên đi từ tiếng Khmer rồi Việt hóa, như Đa Kao được cho là từ Đất Hộ nói trại, và nhiều tên khác còn tranh luận. Địa danh học có phương pháp riêng để phân định, và kết luận chỉ chắc khi có văn bản cũ chép cái tên ấy.

bến nghé
Bến sông có nghé, tên sông và tên vùng lõi của Sài Gòn xưa.
thị nghè
Vợ ông nghè, tên rạch và tên cầu, gắn với một người có thật.
chợ quán
Chợ có nhiều quán, nay là tên một khu và một bệnh viện.
cầu kho
Cầu gần kho lúa của triều đình xưa.

Vì sao gọi là Sài Gòn?

Chưa có kết luận chắc. Cách giải thích được dẫn nhiều nhất là tên Việt hóa của một tên Khmer chỉ vùng này, và một cách khác dựa vào hai chữ Hán chép trong địa chí đầu thế kỷ 19 với nghĩa củi gòn, gắn với cây gòn mọc nhiều. Từ điển nghiêm túc ghi cả hai và nói rõ chưa ngã ngũ.

Điều chắc là cái tên đã có trong văn bản từ đầu thế kỷ 19, và người dân dùng nó liên tục từ đó tới nay cho thành phố và cho tiếng nói của thành phố.

Nét riêng của tiếng Sài Gòn trong tiếng Nam Bộ là gì?

Ba nét: nhẹ hơn ở đầu tiếng, nhiều từ mượn và từ mới hơn, và pha giọng của nhiều nơi. Tiếng Sài Gòn là nơi giọng miền Tây, giọng miền Đông và giọng của người từ xa tới gặp nhau, nên nó vừa giữ gốc Nam Bộ vừa luôn có cái mới.

Vì pha nên tiếng Sài Gòn ít nét vùng hẹp, và đó là lý do nó thành giọng chung được nghe khắp Nam Bộ qua phát thanh, sân khấu và truyền hình.

Tiếng Sài Gòn thay đổi nhanh vì đâu?

Vì ba dòng chảy không ngừng: người nhập cư mang từ mới tới, buôn bán và nghề mới cần tên mới, và truyền thông lan từ mới đi nhanh. Một thành phố cảng luôn đổi, nên tiếng của nó cũng đổi, và đó là nét bình thường của mọi tiếng đô thị.

Người Nam Bộ sống xa quê giữ tiếng Sài Gòn ra sao?

Giữ bằng lời nói trong nhà, bằng cải lương, băng nhạc và phim cũ, và bằng cách kể chuyện cho con cháu. Vì giữ bằng ký ức nên tiếng Sài Gòn của người xa quê thường giữ nhiều từ cũ hơn tiếng Sài Gòn hôm nay, và đó là một kho từ cũ đáng ghi.

Người nghiên cứu hay tìm tới các cộng đồng xa quê để ghi lại từ cũ, vì ở đó từ được giữ nguyên như lúc rời đi, trong khi ở quê nhà từ đã đổi.

Nghe tiếng Sài Gòn xưa ở đâu?

Ở sách của Vương Hồng Sển và Sơn Nam, nơi từ cũ được dùng trong câu thật. Ở cải lương và băng nhạc thu âm giữa thế kỷ 20. Ở phim cũ. Và ở người lớn tuổi trong nhà, nguồn quý nhất và đang ít dần theo năm tháng.

Tra từ Sài Gòn trong từ điển thế nào?

Tra dạng Nam Bộ của từ, rồi đọc nhãn vùng và nhãn thời: từ điển ghi từ nào là lời cũ, từ nào là từ thân mật của người trẻ, từ nào mượn từ tiếng Hoa hay tiếng Pháp. Với địa danh, đọc phần nghĩa gốc và phần chưa rõ, vì nhiều tên đất chưa có kết luận chắc.

Từ nào ở đây đã có trong từ điển?

Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.

Dựa trên những công trình nào?

Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.

  • Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí (1820). Địa chí đầu thế kỷ 19 về đất Gia Định, nơi nhiều địa danh Sài Gòn được chép lần đầu bằng chữ Hán và chữ Nôm.
  • Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa (1960). Ký về Sài Gòn từ thuở lập đất tới giữa thế kỷ 20, kể bằng chính giọng Sài Gòn và dẫn nhiều từ cũ.
  • Sơn Nam, Đất Gia Định xưa (1984). Khảo cứu về vùng Gia Định, cách người tới lập nghiệp và cách đặt tên đất.
  • Lê Trung Hoa, Địa danh học Việt Nam (2006). Phương pháp tìm nghĩa gốc của địa danh, với nhiều ví dụ từ Sài Gòn và Nam Bộ.

Đọc tiếp bài nào để hiểu cho đúng từng ý?

Hiểu cho đúng là lúc bạn hỏi chữ này là gì, dùng ở đâu và vì sao ông bà nói vậy. Bài ở bậc này giải thích một thuật ngữ hoặc một vấn đề trong bài đứng trên nó, rồi dẫn bạn về lại bài đó.

  • Tiếng Sài Gòn thời báo chí quốc ngữ

    Từ 1865, tiếng Sài Gòn có mặt chữ nhờ báo và sách quốc ngữ in tại chỗ. Các tờ báo, các tác giả, lớp từ mới của thời in ấn, và cách đọc chúng làm chứng liệu.

  • Tiếng Chợ Lớn

    Chợ Lớn là phố buôn của người Hoa từ thế kỷ 18, và tiếng Sài Gòn nhận từ Quảng Đông, Triều Châu qua từng bữa ăn và mỗi cuộc mua bán.

  • Từ cũ nay ít gặp

    Xe lam, la de, bót, mã tà, tiệm nước, rạp chớp bóng, nhà dây thép: từ cũ của Sài Gòn còn trong lời người lớn tuổi và trong sách.

  • Từ mới của người trẻ Sài Gòn

    Chảnh, quẩy, bao, xịn, nhây, cà khịa: người trẻ Sài Gòn tạo từ bằng đổi nghĩa, ghép mới và mượn rồi nói gọn.

  • Địa danh Sài Gòn và nghĩa gốc

    Bến Nghé, Thị Nghè, Bà Chiểu, Cầu Kho, Xóm Chiếu, Gò Vấp, Hóc Môn, Thủ Đức: tên đất Sài Gòn kể đời sống cũ.

Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.