Hiểu cho đúng

Từ cũ nào của Sài Gòn nay ít gặp?

Từ cũ của Sài Gòn phần lớn mất theo đồ vật và nghề: xe lam thôi chạy thì từ xe lam thôi dùng, tiệm nước đổi thành quán cà phê thì cái tên cũ chỉ còn trong ký ức. Chúng còn trong lời người lớn tuổi, trong sách của Vương Hồng Sển và trong phim cũ.

Viết cho người trẻ đọc sách cũ và phim cũ, và cho người lớn tuổi muốn thấy từ của mình được ghi lại.

Từ cũ của Sài Gòn mất vì đâu?

Chủ yếu vì đồ vật và nghề mất: không còn xe lam thì không ai nói xe lam, không còn tiệm nước thì cái tên chỉ còn trong kể chuyện. Một phần vì từ mới thay thế: bưu điện thay nhà dây thép, bệnh viện thay nhà thương. Không phần nào là lỗi của ai.

Từ cũ về đi lại gồm gì?

Xe lam, xích lô máy, xe thổ mộ, sốp phơ, lơ xe, xe đò, bến xe. Vài từ còn dùng như xe đò, bến xe; vài từ chỉ còn trong kể chuyện như xe thổ mộ; vài từ ở giữa như xích lô.

xe lam
Xe ba bánh chở khách chạy tuyến ngắn, phổ biến nửa sau thế kỷ 20.
xe thổ mộ
Xe ngựa chở khách và hàng, còn tới giữa thế kỷ 20.
sốp phơ
Tài xế, từ tiếng Pháp chauffeur.
lơ xe
Phụ xe, người thu tiền và xếp khách, từ tiếng Pháp.

Từ cũ về ăn uống gồm gì?

La de, tiệm nước, cà rem, bánh bao xá xíu, hủ tiếu xe, xe nước mía. La de là bia, tiệm nước là quán cà phê kiểu người Hoa, cà rem là kem. Hủ tiếu xe và xe nước mía còn sống vì đồ vật còn.

la de
Bia, từ tiếng Pháp la bière; nay là lời cũ.
tiệm nước
Quán cà phê kiểu người Hoa với điểm tâm sáng.
cà rem
Kem, từ tiếng Pháp crème; còn dùng ở người lớn tuổi.

Từ cũ về phố xá gồm gì?

Rạp chớp bóng, rạp hát, tiệm chạp phô, chành, vựa, phông tên, bùng binh. Rạp chớp bóng là rạp chiếu phim. Phông tên là vòi nước công cộng, từ tiếng Pháp fontaine. Bùng binh còn dùng và là từ rất Sài Gòn cho vòng xoay.

rạp chớp bóng
Rạp chiếu phim, cách gọi giữa thế kỷ 20.
phông tên
Vòi nước công cộng đầu phố, nơi gánh nước thuê tụ họp.
chành
Kho hàng lớn của thương lái, thường ở bến sông.
bùng binh
Vòng xoay giao thông; còn dùng rộng ở Sài Gòn.

Từ cũ về sở và nghề gồm gì?

Bót, mã tà, nhà dây thép, nhà đèn, nhà thương, nhà máy nước, thầy ký, thầy thông, cai. Bót là đồn, mã tà là lính tuần, nhà dây thép là bưu điện, nhà đèn là nhà máy điện, nhà thương là bệnh viện. Cả nhóm này nay là lời cũ.

bót
Đồn, trạm, từ tiếng Pháp poste.
mã tà
Lính tuần canh thời cũ, gốc tiếng Mã Lai mata-mata.
nhà dây thép
Bưu điện, gọi theo đường dây điện tín.
nhà thương
Bệnh viện, nơi thương người bệnh.

Từ cũ về đồ dùng trong nhà gồm gì?

Đèn măng sông, bình thủy, máy hát, ra dô, ghế bố, bàn ủi con gà, tủ gạc măng rê. Đèn măng sông thắp dầu có lưới cháy sáng, bình thủy là phích nước, máy hát là máy nghe đĩa, gạc măng rê là tủ đựng thức ăn có lưới, từ tiếng Pháp garde manger.

đèn măng sông
Đèn dầu áp suất có lưới măng sông, sáng trắng.
bình thủy
Phích giữ nước nóng; còn dùng ở nhiều nhà.
máy hát
Máy nghe đĩa than, sau là máy cát sét.
gạc măng rê
Tủ đựng thức ăn có lưới chống ruồi.

Từ nào cũ mà vẫn còn dùng?

Những từ gắn với đồ vật còn tồn tại hoặc đã thành tên chung: xích lô, bùng binh, bình thủy, xe đò, cà phê, xà bông. Chúng cũ về gốc nhưng sống về dùng, và người trẻ dùng mà không thấy cũ.

Từ nào mất hẳn?

Những từ mà cả đồ vật lẫn ký ức đều mất: xe thổ mộ, mã tà, phông tên, cáo bạch. Người dưới năm mươi tuổi phần lớn không biết, và người biết cũng không còn dịp dùng. Chúng chỉ còn trong sách và trong từ điển với nhãn lời cũ.

Đọc sách cũ gặp từ lạ thì làm sao?

Tra từ điển tiếng Nam Bộ, vì phần lớn từ cũ của Sài Gòn có mục với nhãn lời cũ và câu dùng. Nếu không có, đọc tiếp vài dòng, vì tác giả thời ấy hay giải nghĩa tại chỗ, nhất là Vương Hồng Sển.

Người lớn tuổi có còn dùng từ cũ không?

Còn, và không tự thấy là cũ. Bà cụ nói đi nhà thương, mua la de, ra bót là đang nói từ của thời bà, hoàn toàn tự nhiên. Đây là chỗ ghi được từ cũ trong câu thật, quý hơn mọi danh sách.

Từ cũ có nên dùng lại không?

Nên, khi đúng nghĩa và đúng chỗ: trong truyện lấy bối cảnh cũ, trong tên quán muốn gợi ký ức, trong bài viết về Sài Gòn xưa. Không nên rải từ cũ làm màu, vì người biết từ sẽ thấy giả.

Từ điển đánh dấu từ cũ thế nào?

Bằng nhãn lời cũ hoặc ít gặp, và ghi năm của chứng liệu gần nhất để thấy từ dừng ở đâu. Từ điển VietLayers ghi nhãn ở từng nét nghĩa, vì có từ mất một nghĩa mà giữ nghĩa kia, như bao.

Từ cũ của Sài Gòn có mượn nhiều không?

Nhiều, nhất là từ tiếng Pháp: la de, bót, sốp phơ, phông tên, gạc măng rê, cà rem. Đó là vì lớp đồ vật và nghề mới của thời ấy đến cùng tiếng Pháp, và khi đồ vật đi thì từ mượn đi theo. Từ Việt gốc như nhà thương, nhà đèn thì mất vì bị từ mới thay.

Ghi lại từ cũ thế nào cho có ích?

Ghi kèm câu người nói dùng, tuổi và nơi sinh của họ, và ngày ghi. Một từ trơn chỉ là một từ; một từ có câu và bối cảnh là chứng cứ. Gửi vào từ điển kèm bối cảnh ấy để người biên tập ghi đúng nhãn.

Nên đọc gì để thấy từ cũ trong câu?

Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển trước, vì ông kể tới đâu giải nghĩa tới đó. Rồi Tự vị tiếng Việt miền Nam của ông để tra. Rồi Đò dọc của Bình Nguyên Lộc để thấy tiếng Sài Gòn giữa thế kỷ 20 trong tiểu thuyết.

Từ nào ở đây đã có trong từ điển?

Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.

Dựa trên những công trình nào?

Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.

  • Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa (1960). Kho từ cũ của Sài Gòn lớn nhất, kể kèm hoàn cảnh dùng.
  • Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam (1993). Ghi từ cũ theo trí nhớ của tác giả, có giải nghĩa và câu dùng.

Cùng giải thích cho bài Tiếng Sài Gòn hình thành và biến đổi thế nào, còn bài nào?

Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.