Nghĩa chữ
Chữ 童 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 童 (40)
Là cùng một ý với người khác, nên nó không phải là cho phép mà là thấy giống nhau, và nó dùng cho cả hai người lẫn một hội đồng.
Đọc lên nghe giống hệt nhau mà nghĩa khác nhau, nói về hai tiếng, hai chữ.
Là cánh đồng mọc toàn cỏ, không cấy lúa, và ở Nam Bộ đó là vùng hoang mênh mông, chỗ bắt lươn và chỗ thả bò.
Là cái máy chỉ giờ, và trong cụm tiếng đồng hồ thì nó thành đơn vị đo, nghĩa là trọn một giờ.
Đứa con trai nhỏ; trong truyện xưa là chú bé theo hầu ông tiên, ông thầy tu trên núi.
Đồng tiền lẻ nhỏ nhứt, đem ra làm thước đo cái không có gì.
Lan man, đủ thứ chuyện không đâu; thường nói lo bao đồng, lo chuyện bao đồng là ôm lo, xen vào chuyện không phải phần mình.
Không giống nhau, không cùng một ý một tánh; hay nói về vợ chồng, cha con khác ý nhau.
Là một đồng tiền, đơn vị đếm tiền trong văn xuôi miền Nam, ghép tiếng đồng chỉ đơn vị với tiếng bạc chỉ tiền.
Người cùng một nước, cùng quê hương xứ sở với mình, coi nhau như anh em một nhà.
Cùng ôm một ý muốn, cùng nhắm một hướng mà sống, mà làm việc; cũng chỉ người hợp ý với mình như vậy.
Người ở cùng một toán, một đoàn, cùng làm chung một việc với mình.
Coi hai thứ khác nhau như là một, cho thứ nầy cũng y như thứ kia.
Cùng dự vô hay ngầm hùa theo một việc lén lút, việc không ngay; cũng chỉ người cùng dự vô như vậy.
Cùng học một trường, một thầy với nhau; cũng chỉ người học chung như vậy.
Là vùng ruộng đồng làng mạc, nói với lòng quý mến, nên nó khác nhà quê ở chỗ không mang lời chê.
Đồng sàn là dạng Nam Bộ/cũ tương ứng đồng sàng 同床, nghĩa gốc là cùng một giường hoặc chỗ nằm. Trong câu `loan phụng đồng sàn`, `cộng chẩm đồng sàn`, cụm nói đôi lứa chung chăn gối hoặc nên duyên; trong `bạn đồng sàn`, nó có thể chỉ người cùng ngủ trên một sàn, một chỗ tập thể, không nhứt thiết là đôi lứa. Vì vậy phải đọc danh từ và quan hệ trong câu: cùng chỗ ngủ chưa tự chứng minh hôn nhân, quan hệ tình dục, sự đồng thuận, tình yêu, tính độc quyền hay vai nghề nghiệp. Chữ `sàn` trong cụm là dạng âm của `sàng` 床 ở lớp dùng nầy, không nên tách ra giải máy móc là mặt sàn nhà hiện đại.
Cùng một lòng với nhau, hai người muốn một điều như nhau.
Nhập vô làm một với người chung quanh, sống chung vui chung, không còn thấy mình riêng lẻ.
Là một ban nhiều người họp lại mà xét việc, nhưng ở Nam Bộ xưa nó còn là tiếng gọi thay cho người trong ban đó, thành một bực vai vế trong làng.
Giấy hai bên ký với nhau, ghi rõ mỗi bên chịu làm gì, được gì, trong bao lâu.
Đứa nhỏ chăn trâu, chăn bò ngoài đồng.
Một vùng ruộng rộng trải ra, đếm bằng chữ cánh như đếm một mặt phẳng.
Một nhóm người sống chung, có chung gốc gác hay chỗ ở, coi nhau là một khối.
Ngang hàng nhau, cùng một bậc, không ai trên ai dưới; cũng là sự ngang hàng đó.
Hạp ý, hạp tánh với nhau, cùng một lối sống, lối chơi nên dễ thân nhau.
Cùng đi chung một đường, một chuyến với người khác.
Người cùng làm quan, cùng làm việc nhà nước với mình, ngang hàng với mình.
Những kẻ cùng một loài với mình, như người với người, thú với thú.
Người hay phe đứng về một phía với mình, cùng cảnh hay cùng tính một chuyện với mình.
Giống y như nhau, trước sau vẫn một, không có chỗ nào khác.
Quần áo may một kiểu, một màu cho mọi người trong cùng một trường, một tiệm, một đoàn mặc giống nhau.
Một đồng với nửa đồng; đứng sau một con số khác thì là số đồng đó cộng thêm nửa đồng.
Cùng một lúc; và làm chữ nối để thêm một điều nữa.
Tiền bạc nói chung, cái người ta kiếm, xài và coi trọng; cũng là miếng tiền tròn đúc bằng kẽm, bằng vàng.
Cùng một ý, tán thành điều người khác nói hay làm.
Giấy hai bên cùng ký để giao ước với nhau về một việc làm ăn; tờ giao kèo.
Đồng hồ treo đánh chuông cho biết giờ, gõ bao nhiêu tiếng là bấy nhiêu giờ.
Người cùng quê, cùng làng hay cùng tỉnh với mình, nhứt là khi gặp nhau ở nơi xa.
Có nghĩa giống nhau, nói về hai tiếng khác nhau mà chỉ chung một ý.