Âm: tâm
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 忄 bên trái, 貫 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ tâm 心, nghĩa là tim, lòng.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 忄 bên trái, 貫 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ tâm 心, nghĩa là tim, lòng.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 慣 (25)
Chỗ nhỏ bày bàn ghế mà bán đồ ăn thức uống; theo chữ 館 còn là nhà làm chỗ nhóm họp, trọ, in hay làm báo (hội quán, lữ quán, báo quán); chữ 貫 trong quê quán là nơi gốc gác, trong quán xuyến là lo trọn mọi việc; chữ 冠 trong quán quân là người đứng đầu.
Đã biết, đã gặp hay đã tới nhiều lần nên không còn lạ, như quen với ai, người quen, quen chỗ; làm quen là bắt đầu giao thiệp; còn là đã trải qua hay làm nhiều lần tới thành nếp, như quen tánh, quen nghề, cực đã quen.
Là chỗ bán cơm bán món cho khách ngồi ăn tại chỗ, nhỏ hơn nhà hàng và bình dân hơn.
Giữ một cái quán nhỏ, bán đồ ăn thức uống hay đồ lặt vặt để kiếm sống qua ngày.
Lời cũ, chữ Hán 報館: cơ quan và chỗ làm việc của một tờ báo, nơi người ta viết bài, sắp chữ, in và gởi báo đi.
Người làm chủ một cái quán, như quán cơm, quán nước, quán nhậu, lo buôn bán và tiếp khách trong quán.
Cơm ăn tháng ở nhà người khác hay ở quán, mỗi tháng trả tiền, cho người ở một mình hay ở xa nhà khỏi phải nấu.
Nhà dùng làm chỗ tới lui, họp mặt, vui chơi của những người cùng chung một đoàn thể.
Bắt chuyện, tới lui với một người mình chưa biết để hai bên quen nhau.
Chỗ nhỏ bán cơm cho khách ăn tại đó, giá bình dân.
Đã quen hơi hướng, sự có mặt của một người hay con vật nên gần gũi, quấn quít, không thấy lạ; quen hơi bén tiếng là đã gần gũi lâu ngày mà gắn bó với nhau, như vợ chồng, trai gái thương nhau.
Đã thấy mặt nhiều lần nên nhận ra, nhưng chưa chắc biết tên tuổi hay có giao thiệp; nói về người, đôi khi về ghe, xe thường qua lại.
Quen tay là làm một việc nhiều lần tới thạo, tay làm trơn tru, khéo léo, hay tới mức tay tự làm theo nếp cũ mà không nghĩ.
Là cái làng cái xứ mình sanh ra, và trong giấy tờ thì nó là một mục phải khai, đi kèm tên họ và tuổi.
Tiệm bán rượu cho khách ngồi uống, cũng là chỗ tụ tập chuyện trò.
Đã biết nhau, có giao thiệp ít nhiều với một người mà chưa hẳn thân; người quen biết là người mình biết; quen biết nhiều là giao thiệp rộng, có nhiều chỗ quen.
Có sẵn một thói, một nết đã thành quen từ lâu; cũng nói việc đã quen với tánh ý của ai.
Biết nhau đã lâu, gần gũi thường, coi nhau gần như người nhà.
Đã nhiễm một thói, một tật hay một nếp làm, lâu thành quen, khó bỏ.
Việc làm riết rồi thành nếp, tới mức bỏ không được.
Là biết rõ tới mức khỏi phải nhìn kỹ, nên nó khác quen ở chỗ quen là có biết còn quen thuộc là biết tới nằm lòng.
Là cái quán bán cà phê để người ta ngồi, và trong truyện Sài Gòn nó là chỗ hẹn, chỗ ngồi một mình, chỗ nhớ lại một buổi chiều.
Bắt chuyện, giao thiệp với một người lạ để hai bên bắt đầu quen biết nhau.
Làm một việc vì đã quen làm như vậy, như mọi lần, gần như tự nhiên mà không cần suy tính.
Người mình đã biết mặt, có qua lại ít nhiều, nhưng không hẳn là bà con hay bạn thân.