刊
Chữ Hán, âm Hán Việt

Âm: can

Bảng 214 bộ thủ và chiết tự
Bộ thủ刀
Số nét5 nét
Phân loạiHán Việt
Từ vựng liên kết22 từ

Nghĩa chữ

Chữ ghép từ 2 phần: 干 bên trái, 刂 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ đao 刀, nghĩa là con dao.

Chiết tự và cấu tạo hình tượng

Chữ ghép từ 2 phần: 干 bên trái, 刂 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ đao 刀, nghĩa là con dao.

Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)

Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 刊 (17)

Xem tất cả từ điển
sanđộng từ, danh từ

`San` có bốn lớp phải tách theo đối tượng. (1) Dàn/bạt/rải cho bề mặt phẳng hoặc đều (*level, spread*). (2) Chuyển bớt từ chỗ nhiều sang chỗ ít (*redistribute*). (3) Hán Việt cũ `刪`: lược phần thừa/sai để chỉnh lý văn bản (*prune, abridge*). (4) Hán Việt `刊`: danh từ chỉ ấn phẩm, thường thấy trong `tuần san`, `nguyệt san`, `nội san`, `đặc san`, và động từ cũ khắc in/in/xuất bản. Không suy san nền đạt chuẩn kỹ thuật, san phần là công bằng, san văn bản cho phép đổi ý tác giả, hay một san có kỳ hạn, hình thức và giấy phép và độ tin cậy cố định. Lời Sài Gòn và Nam Bộ có `san đất cho bằng`, `san bớt qua bên này`; lớp xuất bản dùng tự nhiên trong `đặc san`, `nội san`, `tuần san`.

Phương ngữ Nam Bộ
san bốđộng từ

`San bố` là cách nói cũ/hiếm, nghĩa chia, phân bổ hoặc dàn một lượng, phần việc hay trách nhiệm cho tương đối đều (*distribute, apportion evenly*). Nét `bố` ở đây thuộc toàn cụm phân chia, không phải `bố` cha, `bố cáo` ban tin hoặc `bố trí` sắp đặt nhân sự. San bố không tự cho biết tiêu chí chia, lượng bằng nhau tuyệt đối, người nhận đồng ý, gánh nặng hợp lý hay kết quả công bằng. Tiếng hiện đại nên dùng `phân bổ`, `chia đều`, `dàn đều`; lời Nam Bộ có `chia ra cho đều`, `san bớt mỗi bên`, `chia việc lại`.

Phương ngữ Nam Bộ
san hôdanh từ

`San hô` (`珊瑚`) là động vật không xương sống ở biển thuộc ngành Ruột khoang, thường gồm nhiều cá thể nhỏ gọi là polyp hợp thành tập đoàn (*coral*). San hô cứng tiết bộ xương calci cacbonat; qua nhiều thế hệ, phần xương tích tụ của các loài tạo rạn góp phần hình thành `rạn san hô`. San hô mềm cũng là san hô nhưng không tạo bộ xương calci cacbonat cứng như nhóm tạo rạn. Vì vậy không được định nghĩa san hô chỉ là “bộ xương”, không gọi nó là cây hay thú, và không đồng nhứt một khối san hô với cả rạn. Việc khai thác, mua bán hay mang san hô về phải theo quy định bảo tồn; lời Nam Bộ ven biển có `bãi san hô`, `rạn san hô`, `san hô còn sống`.

Phương ngữ Nam Bộ
san bảnđộng từ; danh từ

`San bản` là thuật ngữ xuất bản cũ gắn với `刊本`. Theo cấu trúc câu, từ có thể chỉ việc khắc bản để in (*engrave printing blocks*) hoặc bản sách/ấn bản được in từ bản khắc (*woodblock edition, block-printed edition*). Không đồng nhất san bản với bản thảo, bản sao chụp, tái bản hiện đại hay mọi bản in; cũng không suy chất liệu gỗ, niên đại, nơi khắc, số lượng hoặc tính nguyên bản nếu câu không nêu. Tiếng hiện đại dùng `khắc bản in`, `bản in khắc`, `ấn bản in mộc bản`; nói nôm na ở Nam Bộ là `khắc ván để in sách`.

Phương ngữ Nam Bộ
san cảiđộng từ

`San cải` là thuật ngữ Hán Việt cũ/hiếm `刪改`, chỉ lược bỏ phần thừa, sai hoặc không phù hợp rồi sửa đổi văn bản (*prune and revise, edit by deletion and alteration*). `San` nhấn lược/cắt, `cải` nhấn đổi/sửa; vì vậy toàn từ không chỉ là sửa lỗi chính tả. San cải không tự cho phép đổi lập luận, xóa chứng cứ, làm sai nguyên tác hoặc xuất bản mà không ghi nhận can thiệp. Phạm vi, căn cứ bản gốc và trách nhiệm biên tập phải nêu riêng. Tiếng hiện đại dùng `chỉnh sửa`, `lược sửa`, `biên tập lại`; lời Nam Bộ có `bỏ chỗ rườm rồi sửa lại cho gọn`.

Phương ngữ Nam Bộ
san ngộđộng từ

`San ngộ` là cách nói cũ/hiếm được từ điển lịch sử giải là sửa cho đúng những chỗ còn nghi ngờ hoặc lầm lạc (*correct doubtful or mistaken points*). Vì chứng tích hiện có chỉ đủ cho mục từ và lời giải, VietLayers không tự gán mặt chữ Hán hay dựng một quy trình văn bản học cụ thể. San ngộ không đồng nghĩa xóa mọi điều gây tranh luận, không chứng minh cách sửa là đúng, cũng không cho phép đổi nguồn mà không ghi dấu. Tiếng hiện đại nên dùng `sửa chỗ sai`, `làm rõ chỗ còn ngờ`, `hiệu chỉnh điểm nhầm`; lời Nam Bộ có `coi lại chỗ còn cấn rồi sửa cho đúng`.

Phương ngữ Nam Bộ
san santrạng từ; tính từ

`San san` có hai lớp cổ đồng âm phải tách. (1) Trong ca dao và lời Nam Bộ xưa, `lụy san san` là nước mắt tuôn nhiều, rơi liên tiếp (*tears streaming, profusely*); tiếng hiện nay nói `nước mắt tuôn`, `khóc chan chứa`. (2) Hán Việt `珊珊` gợi tiếng ngọc hoặc vật trang sức cứng chạm nhau thanh, trong (*tinkling, chiming*), đôi khi mở sang tiếng mưa gió trong văn cổ. Không dùng mục này thay cho `sàn sàn` gần ngang nhau, `san sát` liền nhau hay `sàn sạt` tiếng khô. Nghĩa dáng đi uyển chuyển trong một số thư tịch Hán không phải cách dùng tiếng Việt hiện hành và không được dùng để đóng khung giới.

Phương ngữ Nam Bộ
san vậtdanh từ

`San vật` là từ Hán Việt cũ `刊物`, chỉ vật/ấn phẩm được in hoặc xuất bản (*publication, printed matter*), gần `ấn loát phẩm`, `ấn phẩm`. Tùy ngữ cảnh nó có thể là báo, tạp chí, tập san, sách mỏng hoặc tài liệu in; không phải mọi đồ vật có chữ in. San vật không tự cho biết định kỳ, hình thức giấy/số, công chúng, giá bán, giấy phép, bản quyền hay độ đáng tin. Tiếng hiện đại dùng `ấn phẩm`, `tài liệu in`, `xuất bản phẩm`; lời Nam Bộ có `đồ in ra`, nhưng trong văn chuẩn nên dùng `ấn phẩm`.

Phương ngữ Nam Bộ
san bằngđộng từ

`San bằng` có ba nét liên quan tới việc đưa về một mặt/mức. (1) Làm bề mặt phẳng hơn bằng cách bạt chỗ cao, lấp chỗ thấp (*level, grade*). (2) Phá làm cho công trình/khu vực gần như phẳng với mặt đất (*raze, flatten*); nét nầy mạnh và phải nói rõ đối tượng. (3) Nghĩa chuyển: giảm hoặc xóa một chênh lệch có thể xác định, đưa các mức gần ngang nhau (*equalize, level out*). Không dùng san bằng như khẩu hiệu mơ hồ “dẹp hết mọi khó khăn”; không suy công trình bị phá hoàn toàn, việc làm hợp pháp, mặt đất đạt chuẩn hoặc mọi người được đối xử công bằng. Nam Bộ thường nói `ủi cho bằng`, `lấp cho bằng mặt`, `kéo mức lại cho ngang` tùy nghĩa.

Phương ngữ Nam Bộ
san đínhđộng từ

`San đính` là thuật ngữ Hán Việt cũ `刪訂`: lược bỏ chỗ rườm rà/trùng lặp, sửa chữ hoặc câu sai để văn bản rõ và đúng hơn (*copyedit, prune and correct*). Nó gần `hiệu đính` nhưng nhấn cả việc cắt gọn; hẹp hơn `san định` khi từ sau bao gồm hệ thống hóa, sắp lại kết cấu hoặc xác lập bản văn rộng. San đính không tự chứng minh bản mới hoàn toàn chính xác, trung thành tuyệt đối, đã được tác giả duyệt hay có quyền thay nội dung. Cần ghi dấu những can thiệp đáng kể. Tiếng hiện đại dùng `lược sửa`, `hiệu chỉnh`, `biên tập cho gọn`; Nam Bộ có `bỏ đoạn trùng, sửa chữ sai cho dễ đọc`. Ghi chú cách dùng (không dùng làm bí danh): Sài Gòn và Nam Bộ; lời giải: bỏ đoạn trùng, sửa chữ sai cho dễ đọc. Plain explanatory wording.

Phương ngữ Nam Bộ
san địnhđộng từ

`San định` là thuật ngữ Hán Việt cũ `刪定`, chỉ việc chỉnh lý có hệ thống: xem xét, lược bỏ phần không phù hợp, sắp xếp lại và xác lập một văn bản hay tập tư liệu (*systematically edit, recense, establish a text*). Phạm vi thường rộng hơn `san đính`, vốn thiên về lược chỗ rườm/trùng và sửa chữ câu. San định không tự chứng minh bản mới là nguyên tác, hoàn toàn đúng, được mọi học giả đồng thuận hay người biên tập có quyền đổi nội dung tùy ý. Tiếng hiện đại dùng `chỉnh lý`, `biên tập có hệ thống`, `xác lập văn bản`; nói nôm na ở Nam Bộ là `soát lại, bỏ chỗ không ổn rồi sắp cho đâu ra đó`. Ghi chú cách dùng (không dùng làm bí danh): Sài Gòn và Nam Bộ; lời giải: soát lại, bỏ chỗ không ổn rồi sắp cho đâu ra đó. Plain explanatory wording, not a technical synonym.

Phương ngữ Nam Bộ
san hànhđộng từ

`San hành` là thuật ngữ Hán Việt cũ `刊行`, nghĩa in/xuất bản rồi đưa ấn phẩm ra lưu hành (*publish and issue*). Trang từ điển in thành `san hàng`, nhưng mặt chữ và các chứng tích tiếng Việt xác nhận `san hành`; VietLayers sửa đầu mục, không giữ lỗi OCR/ấn loát làm biến thể. San hành không tự cho biết bán hay phát miễn phí, số bản, phạm vi phát hành, giấy phép, bản quyền, chất lượng hoặc sự đồng ý của tác giả. Tiếng hiện đại dùng `ấn hành`, `xuất bản`, `phát hành`; lời Nam Bộ có `in ra rồi phát hành`.

Phương ngữ Nam Bộ
san phátđộng từ

`San phát` là cách nói cũ/hiếm, được từ điển lịch sử giải là `hớt tóc`, tức cắt hoặc tỉa tóc (*cut or trim the hair*). Đây không phải cách gọi thông dụng hiện nay; toàn dân nói `cắt tóc`, còn `hớt tóc` rất quen trong lời Sài Gòn và Nam Bộ. Mục từ không tự cho biết kiểu tóc, độ ngắn, dụng cụ, người thực hiện, lý do nghi lễ hay sự đồng thuận. Vì chưa có chứng tích trực tiếp đủ chắc cho toàn mặt chữ, VietLayers để trống tab Hán Nôm thay vì suy từ âm `phát`.

Phương ngữ Nam Bộ
san nhuậnđộng từ

`San nhuận` là thuật ngữ Hán Việt cũ `刪潤`, chỉ việc xem xét lại, thêm bớt và trau chuốt văn bản để lời văn đúng, gọn, sáng và hay hơn (*revise and polish*). `San` nhấn lược/cắt, còn `nhuận` trong ngữ cảnh này là sửa sang, gọt giũa lời văn; không phải làm ẩm hay lợi nhuận. San nhuận không cho phép tô vẽ dữ kiện, đổi lập luận, che can thiệp hoặc bảo đảm bản mới hoàn hảo. Tiếng hiện đại dùng `nhuận sắc`, `trau chuốt`, `biên tập lại`; lời Nam Bộ có `bớt chỗ rườm, thêm chỗ thiếu rồi sửa câu cho xuôi`. Ghi chú cách dùng (không dùng làm bí danh): Sài Gòn và Nam Bộ; lời giải: bớt chỗ rườm, thêm chỗ thiếu rồi sửa câu cho xuôi. Plain explanatory wording.

Phương ngữ Nam Bộ
san phẳngđộng từ

`San phẳng` là làm cho một bề mặt hết hoặc bớt lồi lõm, trở nên phẳng hơn (*level, flatten*); trong ngữ cảnh phá hủy, từ này có thể chỉ làm công trình hoặc khu vực gần phẳng với mặt đất (*raze*). Khác nghĩa chuyển rộng của `san bằng`, san phẳng chủ yếu nhấn kết quả hình thể nhìn thấy. Từ không tự cho biết cao độ, độ chặt, độ nhẵn, an toàn, mức phá hủy hoàn toàn hay tính hợp pháp. Tiếng Sài Gòn và Nam Bộ thường nói `ủi cho bằng`, `cào cho phẳng`, `lấp chỗ trũng cho bằng mặt`.

Phương ngữ Nam Bộ
san thạchđộng từ

`San thạch` là thuật ngữ Hán Việt cũ `刊石`, nghĩa khắc chữ hoặc hình vào đá (*engrave on stone*), thường để lập bia hay lưu văn bản. Định nghĩa trên trang in bị hỏng thành “đá láng dùng in”; đó không phải nghĩa chuẩn. San thạch không phải in thạch bản (*lithography*), không tự nói loại đá, nội dung, niên đại, người khắc, độ nguyên vẹn hay tính xác thực. Tiếng hiện đại dùng `khắc đá`, `khắc chữ lên bia đá`; lời Nam Bộ có `khắc chữ vô đá`.

Phương ngữ Nam Bộ
nặng gánh san hàcụm từ cố định, văn chương

`Nặng gánh san hà` là cụm văn chương chỉ trạng thái đau đáu, tự thấy mang trách nhiệm đối với việc lớn của đất nước hoặc giang sơn; từ điển cũ còn gắn với hình tượng người nuôi chí lớn. `San hà` là âm đọc Hán Việt cũ/văn chương của `山河`, nghĩa đen núi sông và nghĩa chuyển đất nước, giang sơn; trong tiếng hiện đại `sơn hà` quen hơn khi đứng riêng. Không hiểu đen là mang núi sông, và cũng không dùng cụm này để tự động khẳng định một nhân vật thật sự yêu nước, có chức quyền, có năng lực hay hành động đúng. Hình tượng truyền thống thường gắn với nam nhi/chí lớn, nhưng nghĩa không buộc giới tính; văn bản hiện đại có thể dùng cho bất kỳ người nào nếu ngữ cảnh văn chương phù hợp. Tab Hán Nôm chỉ ghi `山河` cho thành tố `san hà`, không ráp chữ giả định cho `nặng gánh`.

Phương ngữ Nam Bộ

Toàn bộ từ ghép Hán Việt có chứa chữ 刊 (5 từ)

Tra cứu mạng lưới từ vựng