Phân biệt và chọn
Xưng hô Nam Bộ gọi sao cho đúng vai?
Ở Nam Bộ, cách gọi một người cho biết người đó là con thứ mấy, đứng vai gì với người nói và thân tới mức nào. Anh Hai không phải tên, mà là con đầu lòng. Dì Út là em gái út của má. Ổng là ông ấy nói gọn lại.
Viết cho người Nam Bộ muốn hiểu vì sao trong nhà gọi vậy, và cho người viết lời thoại cần gọi đúng vai.
Xưng hô Nam Bộ dựa trên điều gì?
Dựa trên ba thứ cùng lúc: thứ trong nhà, vai họ hàng, và mức thân. Thứ cho biết một người là con thứ mấy. Vai cho biết người đó là chú hay cậu, dì hay cô. Mức thân quyết định gọi tui hay tôi, mày hay em, ổng hay ông ấy.
Ba thứ này chồng lên nhau trong một cách gọi. Chú Ba là người em trai của cha, con thứ hai trong nhà nội. Cậu Út là em trai út của má. Nghe một cách gọi, người trong xóm biết ngay người được gọi đứng đâu trong hai họ.
Tui, tôi, tao, mình khác nhau ở mức thân ra sao?
Tui là tôi nói theo giọng Nam Bộ, dùng với người ngang vai hoặc thân vừa phải, kể cả người lớn hơn khi không cần trang trọng. Tôi giữ cho chỗ trang trọng. Tao chỉ dùng với bạn rất thân hoặc với người dưới. Mình dùng giữa vợ chồng, người yêu, hoặc khi kể chuyện chung.
Tui là cách xưng đặc trưng nhất, và nó không thô. Một người bán hàng nói tui với khách là bình thường. Chỉ khi vào chỗ họp hành, giấy tờ, thì tôi mới thay tui.
Qua và bậu là gì, còn ai dùng không?
Qua là tôi và bậu là em, mình, dùng giữa người nói với người nhỏ hơn hoặc với người thương, trong lời cũ của Nam Bộ. Nay hai từ này gần như chỉ còn trong ca dao, cải lương và lời kể của người rất lớn tuổi.
Cặp qua và bậu sống trong câu ca dao quen thuộc: bậu về, qua ở lại, thương bậu qua đứng ngồi không yên. Khi viết lời thoại hôm nay, dùng qua và bậu là đưa nhân vật về một thời rất cũ, nên chỉ nên dùng khi bối cảnh đúng là thời đó.
- qua
- Tôi, người nói tự xưng với người nhỏ hơn hoặc thân, lời cũ.
- bậu
- Em, mình, người được gọi, thường là người thương, lời cũ.
Vì sao con đầu lòng gọi là Hai?
Vì ở Nam Bộ thứ tự trong nhà bắt đầu từ Hai, không có Cả. Con đầu lòng là anh Hai, chị Hai, con kế là Ba, rồi Tư, Năm, cho tới Út. Vì sao bỏ Cả thì có nhiều cách giải thích, và chưa cách nào được chứng minh chắc chắn.
Hai cách giải thích được nhắc nhiều nhất: một là kiêng chữ Cả vì hương cả là chức lớn nhất trong làng xưa, hai là con cả ở lại quê cũ khi ông bà đi khai hoang nên con đầu ở đất mới được gọi là Hai. Cả hai đều là cách kể trong dân gian, không phải kết luận nghiên cứu, nên khi viết thì nên nói rõ là cách giải thích thường nghe.
Gọi theo thứ là gọi thế nào?
Lấy vai ghép với thứ: anh Ba, chị Tư, chú Năm, dì Sáu, cậu Bảy. Thứ là số thứ tự của người đó trong nhà cha mẹ họ, còn vai là quan hệ với người nói. Người trong xóm cũng gọi nhau theo thứ, dù không phải họ hàng, như ông Hai bán bánh, bà Ba tạp hóa.
Cách gọi này thay cho tên. Ở nhiều xóm, người ta biết nhau bằng thứ chứ không bằng tên khai sinh, và có khi cả đời chỉ nghe gọi là anh Bảy. Khi viết về một người thật ở Nam Bộ, ghi đúng thứ của họ là ghi đúng cách xóm gọi họ.
Út là gì, và một nhà có mấy Út?
Út là con sau cùng. Một nhà chỉ có một Út, nhưng có thể có nhiều cách gọi Út khi nhà đông: Út Lớn, Út Nhỏ, Út Em, hoặc Út ghép với tên. Với người ngoài, Út đứng như một cái tên: dì Út, cậu Út, con Út.
Út còn dùng để gọi trìu mến một người trẻ hoặc một đứa nhỏ trong nhà, kể cả khi người đó không phải con út. Nghe má gọi Út ơi thì chưa chắc đó là con sau cùng, có khi chỉ là đứa được cưng.
Tía, má, ba, cha gọi cha mẹ thế nào?
Má là mẹ, dùng rộng khắp Nam Bộ. Cha thì gọi ba là phổ biến nhất, tía là cách gọi ở miền Tây và trong nhiều gia đình gốc Hoa, cha dùng khi trang trọng hoặc trong lời cũ. Cặp tía má là cặp đặc trưng của tiếng miền Tây.
Tía được nhiều nhà nghiên cứu cho là mượn từ tiếng Triều Châu, nhập vào tiếng Nam Bộ qua cộng đồng người Hoa ở miền Tây rồi lan ra. Điều chắc chắn là ngày nay tía là từ Việt, và nghe tía là nghe ra miền Tây.
- má
- Mẹ. Dùng khắp Nam Bộ, trong mọi lứa tuổi.
- ba
- Cha. Cách gọi phổ biến nhất ở Sài Gòn và miền Đông.
- tía
- Cha. Cách gọi đặc trưng của miền Tây và gia đình gốc Hoa.
Nội và ngoại phân biệt ra sao trong cách gọi?
Bên cha là nội, bên má là ngoại, và hai chữ này ghép vào ông, bà, cô, cậu để nói rõ người đó thuộc họ nào: ông nội, bà ngoại, cô Hai bên nội, dì Ba bên ngoại. Trong nhà, chỉ cần nói ngoại là mọi người hiểu là bà ngoại hoặc nhà ngoại.
Nội và ngoại còn đứng một mình như tên gọi: về ngoại là về nhà bà ngoại, ngoại kêu là bà ngoại gọi. Đây là một trong những chỗ tiếng Nam Bộ nói rất gọn mà vẫn đủ nghĩa.
Cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, thím, dượng gọi theo lệ nào?
Bên nội: anh của cha là bác, em trai của cha là chú, vợ chú là thím, chị hay em gái của cha đều là cô, chồng cô là dượng. Bên ngoại: anh hay em trai của má đều là cậu, vợ cậu là mợ, chị hay em gái của má đều là dì, chồng dì là dượng.
Điểm riêng của Nam Bộ là dượng: chồng của cô và chồng của dì đều gọi là dượng, còn bác gái bên nội thì ít gọi, thường gọi thẳng là bác. Ở nhiều nhà, chị của má cũng gọi là dì chứ không gọi là bác, nên dì Hai có thể lớn tuổi hơn má.
- thím
- Vợ của chú, bên nội.
- mợ
- Vợ của cậu, bên ngoại.
- dượng
- Chồng của cô hoặc của dì, cả hai bên.
Gọi vợ chồng trước mặt người khác thế nào?
Người lớn tuổi nói ổng, bả khi kể về vợ hoặc chồng mình với người khác: ổng đi chợ rồi, bả không có nhà. Người trẻ hơn dùng ông xã, bà xã, hoặc mình. Nhà tôi là cách trang trọng và ít gặp hơn trong lời nói thường ngày ở Nam Bộ.
Ổng và bả nghe thân chứ không xa cách. Một bà cụ nói ổng mất năm rồi là đang nói về người chồng cả đời của mình, với đúng giọng của tuổi già ở Nam Bộ.
Ổng, bả, ảnh, chỉ, cổ là gì?
Là ông ấy, bà ấy, anh ấy, chị ấy, cô ấy nói gọn lại: hai tiếng nhập thành một, và dấu thanh của tiếng thứ hai để lại dấu hỏi trên tiếng còn lại. Cùng đường ấy còn có chú thành chủ, cậu thành cẩu, và trong đó thành trỏng, ngoài đó thành ngoải, bên đó thành bển.
Đây là một quy luật rất đều của tiếng Nam Bộ, và nó cho thấy dấu hỏi là dấu của sự rút gọn. Khi viết lời thoại, ghi ổng, bả, ảnh, chỉ đúng như người ta nói; ghi ông ấy, bà ấy là đổi giọng nhân vật.
- ổng
- Ông ấy.
- bả
- Bà ấy.
- ảnh
- Anh ấy.
- chỉ
- Chị ấy.
- cổ
- Cô ấy.
- trỏng
- Trong đó.
Gặp người lạ ngoài đường thì gọi sao?
Theo tuổi ước chừng và theo phép lịch sự: người ngang tuổi hoặc lớn hơn chút gọi anh, chị; lớn hơn nhiều gọi chú, cô; già hơn nữa gọi ông, bà. Người lớn gọi người trẻ là con, cháu, hoặc cưng nếu muốn thân. Tự xưng thì tui hoặc em, con tùy vai.
Hai chữ đáng nhớ: anh Hai và chị Hai dùng với người lạ là cách gọi lịch sự và thân, không phải khẳng định người đó là con đầu. Người bán hàng gọi khách là anh Hai là đang mời khách bằng giọng Nam Bộ.
Người trẻ gọi nhau thế nào?
Bạn thân thì mày tao, hoặc ông bà theo kiểu ông đi đâu đó, bà ơi. Bạn vừa thì gọi tên hoặc bồ, và cưng dùng khi trìu mến, trêu chọc. Trên mạng và trong nhóm bạn, mấy cách này trộn với nhau rất nhanh và đổi theo từng nhóm.
Bồ là từ đáng để ý: nó vừa là bạn, vừa là người yêu, tùy câu. Bồ tui là bạn tôi hoặc người yêu tôi, phải nghe cả câu mới biết.
Xưng hô trong quán, ngoài chợ, trên ghe thế nào?
Người bán và người mua gọi nhau bằng vai ước chừng cộng với thứ hoặc tên nghề: cô Hai bán rau, chú Tư sửa xe, anh Ba lái đò. Khách quen gọi chủ quán bằng thứ của họ. Người lạ thì dùng anh Hai, chị Hai cho an toàn và lịch sự.
Trên ghe, trên chợ nổi, cách gọi ngắn hơn vì phải gọi vọng: Ba ơi, Út ơi, hoặc gọi bằng tên ghe. Đây là chỗ xưng hô đi liền với nhịp làm việc, và cũng là chỗ dễ nghe được cách gọi cũ nhất.
Gọi sai vai thì sao?
Sai vai làm câu đổi nghĩa hoặc đổi thái độ. Gọi chú thành anh là hạ tuổi người ta, có khi được xem là khéo, có khi là vô lễ tùy người. Gọi tao mày với người mới quen là xúc phạm. Gọi bác cho chồng của dì là sai họ, người trong nhà sẽ sửa ngay.
Cách chữa là hỏi thẳng: con gọi bằng gì cho phải? Ở Nam Bộ, câu hỏi này rất thường và không ai phiền. Người được hỏi sẽ nói gọi cô đi, hay kêu chú Bảy là được.
Viết lời thoại Nam Bộ thì ghi xưng hô ra sao?
Ghi đúng như nhân vật nói: tui, ổng, bả, chú Ba, dì Út, chớ không đổi thành tôi, ông ấy, bà ấy. Xưng hô là chỗ giọng vùng lộ rõ nhất, và cũng là chỗ người đọc Nam Bộ nhận ra nhân vật có thật hay chỉ mặc áo bà ba.
Cần giữ nhất quán trong cả truyện: một nhân vật đã xưng tui thì không tự nhiên đổi sang tôi ở chương sau, trừ khi bối cảnh đổi. Và tránh chất quá nhiều dấu hiệu vùng miền vào một câu; một chữ tui đúng chỗ nói được nhiều hơn năm chữ đặt cho có.
Học xưng hô Nam Bộ nên bắt đầu từ đâu?
Từ bảng thứ trong nhà, vì nó là gốc của mọi cách gọi. Học Hai, Ba, Tư, Út trước, rồi học vai nội ngoại, rồi học cặp rút gọn ổng bả ảnh chỉ. Sau đó nghe người thật nói và ghi lại từng cách gọi kèm quan hệ của người được gọi.
Cách học nhanh nhất là ngồi một bữa cơm nhà ở Nam Bộ và ghi lại ai gọi ai bằng gì. Một bữa cơm cho đủ vai để lập cả bảng, và nghe được cả mức thân mà không sách nào tả hết.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
Dựa trên những công trình nào?
Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.
- Sơn Nam, Văn minh miệt vườn (1970). Tả nếp nhà và nếp xóm ở miền Tây, nơi cách gọi theo thứ và theo vai được kể như một phần của đời sống.
- Nguyễn Văn Ái, Từ điển phương ngữ Nam Bộ (1994). Ghi các đại từ và từ xưng hô Nam Bộ cùng ví dụ dùng trong câu.
Đọc tiếp bài nào để hiểu cho đúng từng ý?
Hiểu cho đúng là lúc bạn hỏi chữ này là gì, dùng ở đâu và vì sao ông bà nói vậy. Bài ở bậc này giải thích một thuật ngữ hoặc một vấn đề trong bài đứng trên nó, rồi dẫn bạn về lại bài đó.
- Thứ bậc trong nhà Nam Bộ
Hai, Ba, Tư cho tới Út: thứ trong nhà Nam Bộ là gốc của mọi cách gọi. Thứ tính từ đâu, dùng ra sao với người trong và ngoài họ, và vì sao nó thay cả tên.
- Gọi theo thứ và tục kiêng tên Cả
Gọi một người bằng thứ của họ thay cho tên là nếp riêng của Nam Bộ. Cách gọi ấy hoạt động ra sao, vì sao không có Cả, và viết thế nào cho đúng khi thứ thay tên.
- Tui, qua, bậu
Tui là tôi nói theo giọng Nam Bộ và còn dùng hằng ngày. Qua và bậu là cặp xưng hô cũ giữa người thương.
- Anh Hai, chị Hai
Trong nhà, anh Hai là con đầu lòng. Ngoài đường, anh Hai là cách gọi lịch sự với người lạ.
- Xưng hô với người lạ ngoài đường
Gặp người lạ ở Nam Bộ thì gọi anh chị, chú cô, ông bà theo tuổi ước chừng, tự xưng tui, em hay con theo vai.
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.