Cân nhắc khi dùng

Từ Nam Bộ nào đang mất, đang đổi nghĩa?

Một từ mất đi rất lặng: không ai tuyên bố, chỉ là một ngày không còn ai dưới sáu mươi tuổi dùng nó. Ở Nam Bộ, từ mất theo nghề, theo đồ vật và theo cách sống, và từ đổi nghĩa theo từng lớp người trẻ.

Viết cho người Nam Bộ muốn giữ tiếng của ông bà, cho người nghiên cứu cần biết chỗ nào phải ghi gấp, và cho người biên tập từ điển cần đánh nhãn đúng.

Thế nào là một từ đang mất?

Là từ mà lớp người trẻ trong vùng không còn dùng và nhiều người không còn hiểu, dù người lớn tuổi vẫn nói. Từ đang mất chưa mất hẳn: còn nghe được, còn ghi được, nhưng không còn được truyền xuống. Khi lớp người còn nói nó không còn, từ mất hẳn.

Dấu hiệu nào cho biết một từ đang mất?

Bốn dấu hiệu: chỉ người trên một tuổi nào đó dùng; người trẻ nghe phải hỏi lại; từ chỉ còn trong câu cố định hay bài hát mà không dùng rời; và đồ vật hoặc việc mà từ chỉ không còn trong đời sống. Thấy hai dấu hiệu là nên ghi ngay.

Cách thử nhanh: nói từ đó với ba người ở ba lứa tuổi trong cùng một nhà. Nếu ông bà dùng, cha mẹ hiểu mà không dùng, con cháu không hiểu, thì đó đúng là từ đang mất, và nhà ấy là chỗ ghi được cả ba tầng.

Nghề cũ mất thì từ mất theo ra sao?

Mỗi nghề có một bộ từ về dụng cụ, động tác và sản phẩm, và khi nghề mất thì cả bộ từ mất theo vì không còn việc gì để gọi tên. Nghề bắt cá bằng lờ, đó, nò, đăng ở miền Tây, nghề chằm lá, đươn đệm, nghề chèo ghe tam bản chở hàng đều đang để lại từ mà ít người trẻ biết.

lờ
Đồ đan bằng tre để bắt cá, hình trụ, cá vào không ra được.
đó
Đồ đan để đón cá theo dòng nước chảy.
Hàng rào chắn cá trên sông, dẫn cá vào chỗ bắt.
đăng
Tấm chắn bằng tre hoặc lưới cắm ngang dòng để bắt cá.

Từ đổi nghĩa qua hai đời là thế nào?

Là từ mà đời ông bà hiểu một nghĩa, đời cháu hiểu một nghĩa khác, và hai nghĩa cùng sống một lúc. Chảnh từ nghĩa kén, khó tính thành nghĩa kiêu, làm cao. Bao từ nghĩa trả tiền cho người khác thành nghĩa chắc chắn. Quậy từ nghĩa khuấy thành nghĩa nghịch ngợm, phá phách.

Từ đổi nghĩa khó ghi hơn từ mất, vì cả hai nghĩa đều đang được dùng và người dùng mỗi nghĩa không biết nghĩa kia. Từ điển phải ghi cả hai, đánh dấu nghĩa nào cũ hơn, và ghi năm bắt đầu gặp nghĩa mới.

chảnh
Cũ: kén chọn, khó tính. Mới: kiêu, làm cao.
bao
Cũ: trả tiền, bao thầu. Mới: chắc chắn, đảm bảo.
quậy
Cũ: khuấy, quấy. Mới: nghịch, phá, chơi hết mình.
ghiền
Cũ: nghiện, thường là nghiện thuốc. Mới: mê, thích tới mức không bỏ được.

Từ đổi sắc thái ra sao?

Nghĩa giữ nguyên nhưng cảm giác đi kèm đổi: một từ từng trung tính nay nghe thô, hoặc một từ từng khen nay nghe mỉa. Mập và ốm từng là lời tả bình thường, nay nhiều người trẻ tránh dùng trước mặt. Khi sắc thái đổi, người lớn tuổi dùng từ đúng nghĩa mà vẫn bị hiểu là vô ý.

Vì sao từ mất?

Vì bốn dòng chảy: đồ vật và nghề mất nên không còn gì để gọi; người trẻ chuyển lên thành phố và học tiếng của thành phố; truyền hình và mạng lan một giọng chung; và trường học dạy từ chuẩn. Không dòng nào là lỗi của ai. Đó là cách mọi tiếng nói đổi khi đời sống đổi.

Từ nào mất vì đồ vật mất?

Đèn măng sông, cà ràng, bàn ủi con gà, ghe tam bản, xe lam, quạt mo, gáo dừa. Khi đồ vật không còn trong nhà, từ chỉ còn trong chuyện kể, và hai đời sau thì cả chuyện kể cũng không còn nhắc.

đèn măng sông
Đèn thắp bằng dầu, có lưới măng sông cháy sáng, dùng trước khi có điện.
bàn ủi con gà
Bàn ủi bằng than, nắp có hình con gà, ủi đồ trước khi có bàn ủi điện.
ghe tam bản
Ghe nhỏ ba tấm ván, đi lại và chở hàng trong kênh rạch.

Từ nào sống lại?

Từ gắn với món ăn, du lịch và ký ức được bán ra ngoài vùng: miệt vườn, chợ nổi, áo bà ba, cà ràng, đờn ca tài tử. Chúng sống lại vì có việc mới để gọi tên, như tên quán, tên tour, tên món, và vì người ngoài vùng muốn nghe đúng tên gốc.

Từ sống lại thường đổi nghĩa nhẹ: cà ràng trong quán ăn hôm nay là món nướng trên bếp đất chứ không còn là cái bếp trên ghe. Từ điển ghi cả nghĩa gốc lẫn nghĩa mới, để không ai tưởng nghĩa mới là nghĩa duy nhất.

Ghi lại tiếng nói của người lớn tuổi thế nào?

Ghi âm khi họ kể chuyện đời mình, không hỏi từ rời. Từ cũ chỉ bật ra khi người ta kể về nghề cũ, nhà cũ, chợ cũ. Hỏi bà biết từ nào cũ không thì bà không nhớ; hỏi hồi đó bà bắt cá bằng gì thì lờ, đó, nò, đăng tự ra hết.

Ghi cả bối cảnh: người nói bao nhiêu tuổi, sinh ở đâu, làm nghề gì, ghi ngày nào. Một từ ghi mà không có bối cảnh thì không dùng làm chứng cứ được. Bài về làm nghiên cứu trong cụm này có mẫu phiếu ghi.

Vì sao phải ghi trước khi mất?

Vì từ mất là mất luôn: không có ghi âm và không có sách thì không cách nào dựng lại một từ đã không còn ai nói. Lịch sử tiếng nói Nam Bộ có nhiều lỗ trống chính vì thời trước không ai ghi. Mỗi người lớn tuổi mất đi là một kho từ đóng lại, và kho ấy không mở lại được.

Ghi rồi thì để ở đâu?

Ở chỗ người khác tìm thấy được: một từ điển có mục từ, một kho ngữ liệu có ghi bối cảnh, hoặc ít nhất một tệp có tên người nói, tuổi, nơi sinh và ngày ghi. Ghi vào sổ tay cá nhân rồi cất là ghi cho mình, chưa phải giữ cho tiếng nói.

VietLayers nhận từ do người đọc gửi vào hàng chờ biên tập, kèm bối cảnh nếu có. Một từ được gửi kèm câu người nói dùng nó có giá trị gấp nhiều lần một từ gửi trơn.

Từ đang mất có nên dùng lại không?

Nên, nếu dùng đúng nghĩa và đúng chỗ. Dùng lại trong bài viết, trong tên quán, trong truyện là cách cho từ thêm việc làm. Điều cần tránh là dùng sai nghĩa hoặc dùng làm màu: một bài rải mười từ cũ cho có sẽ khiến người biết từ thấy giả, và người không biết thấy rối.

Trẻ em Nam Bộ có còn nghe từ cũ không?

Còn, nếu trong nhà có ông bà và nếu người lớn kể chuyện. Trẻ em nghe từ cũ qua chuyện kể trước bữa cơm, qua cải lương mở trong nhà, qua những lần về quê. Nơi nào ông bà không ở chung và không ai kể chuyện thì từ cũ dừng ở đời cha mẹ.

Người Nam Bộ sống xa quê giữ từ cũ ra sao?

Giữ khá tốt, vì họ mang tiếng nói của lúc rời đi và ít bị dòng chảy ở quê nhà đổi. Nhiều từ đã ít gặp ở Sài Gòn vẫn nghe được trong bếp của một gia đình sống xa quê ba mươi năm. Đây là một kho từ cũ đáng ghi, và ghi được qua trò chuyện thường.

Từ điển đánh dấu từ đang mất thế nào?

Bằng nhãn văn phong và nhãn thời: lời cũ cho từ chỉ người lớn tuổi dùng, ít gặp cho từ còn hiểu mà ít nói, và ghi năm của chứng liệu gần nhất để thấy từ dừng ở đâu. Từ điển VietLayers ghi các nhãn này ở từng nét nghĩa, vì có từ chỉ mất một nghĩa mà giữ nghĩa kia.

Bắt đầu ghi từ đâu?

Từ người lớn tuổi nhất trong nhà mình, ngay tuần này. Ghi âm một buổi kể chuyện về nghề cũ và chợ cũ, ghi tên, tuổi, nơi sinh, ngày ghi, rồi nghe lại và chép ra những từ mình không biết. Một buổi như vậy thường cho hai mươi tới năm mươi từ, và là chứng cứ không sách nào có.

Từ nào ở đây đã có trong từ điển?

Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.

Dựa trên những công trình nào?

Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.

  • Sơn Nam, Văn minh miệt vườn (1970). Tả nghề và nếp sống miệt vườn, nơi nhiều từ nghề nay đã mất được ghi trong bối cảnh.
  • Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973). Kể cách mở đất và các nghề thời đầu, kèm từ ngữ của từng nghề.
  • Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam (1993). Ghi từ cũ của Sài Gòn và Nam Bộ theo trí nhớ của một người sống gần trọn thế kỷ 20.

Đọc tiếp bài nào để hiểu cho đúng từng ý?

Hiểu cho đúng là lúc bạn hỏi chữ này là gì, dùng ở đâu và vì sao ông bà nói vậy. Bài ở bậc này giải thích một thuật ngữ hoặc một vấn đề trong bài đứng trên nó, rồi dẫn bạn về lại bài đó.

Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.