Hiểu cho đúng

Vì sao phải ghi từ trước khi mất?

Một từ đã mất không dựng lại được. Không có ghi âm thì không biết nó đọc ra sao, không có câu thì không biết nó dùng thế nào, không có người thì không hỏi thêm được. Lịch sử tiếng Nam Bộ có nhiều lỗ trống chính vì thời trước không ai ghi lúc còn ghi được.

Viết cho người đang phân vân có đáng bỏ một buổi để ghi ông bà không, và cho người nghiên cứu cần lý lẽ để bắt đầu sớm.

Cái gì mất theo một từ?

Bốn thứ: âm của nó, nghĩa của nó, cách dùng của nó, và cái thứ nó gọi tên. Mất âm là không biết đọc sao. Mất nghĩa là không biết nó chỉ gì. Mất cách dùng là không biết đặt vào câu nào. Và khi từ mất, cái nó gọi tên cũng thành không tên, tức là cũng mờ đi trong ký ức.

Vì sao không dựng lại được?

Vì từ không có bản gốc ở đâu ngoài người nói. Sách chép được chữ, không chép được giọng và không trả lời câu hỏi thêm. Khi người nói cuối cùng không còn, mọi câu hỏi về từ ấy đều không có ai trả lời, và đoán thay là đoán, không phải biết.

Sách không đủ sao?

Không đủ. Sách chỉ có từ mà tác giả tình cờ dùng, ở nghĩa tác giả cần, và không có giọng. Sơn Nam ghi được nhiều nhưng ông cũng không ghi hết một nghề. Sách là nguồn quý cho từ đã mất, và là nguồn thiếu cho từ đang mất, vì với từ đang mất ta còn hỏi được người.

Thời trước vì sao để trống?

Vì không ai nghĩ từ sẽ mất, vì không có máy ghi âm, và vì từ nghề, từ nhà bếp bị coi là thường quá không đáng ghi. Kết quả là có rất nhiều nghề ở Nam Bộ mà ngày nay chỉ còn tên nghề, không còn bộ từ, và không cách nào biết người xưa gọi dụng cụ là gì.

Lỗ trống ấy trông thế nào trong từ điển?

Là những mục từ chỉ có chữ mà không có ví dụ, hoặc có ví dụ từ một nguồn duy nhất, hoặc có nghĩa đoán. Từ điển VietLayers ghi chưa rõ ở những chỗ ấy thay vì đoán, và mỗi chỗ chưa rõ là một lỗ trống mà thời trước để lại.

Ghi bây giờ thì mười năm nữa được gì?

Được một bản ghi có giọng thật, câu thật, người thật, mà lúc ấy không còn cách nào có được. Mười năm nữa nhiều người kể hôm nay không còn, và bản ghi của hôm nay là thứ duy nhất cho biết họ nói ra sao. Giá trị của bản ghi tăng theo thời gian, vì nguồn sống ít đi.

Ghi có tốn nhiều không?

Không. Một điện thoại, một buổi chiều, một câu hỏi hồi đó ông làm gì. Chi phí là gần như không, và cái ghi được là thứ không mua lại được với bất kỳ giá nào sau này. Ít việc nào có tỷ lệ giữa công bỏ ra và cái giữ được cao như vậy.

Ai nên ghi?

Người trong nhà trước tiên, vì ông bà nói với con cháu khác nói với người lạ, cởi mở hơn và nhớ nhiều hơn. Người nghiên cứu ghi được đúng phương pháp, nhưng không vào được bếp của mọi nhà. Hai bên cần nhau: người nhà ghi, người nghiên cứu hướng dẫn và gom lại.

Ghi rồi để đâu mới không mất lần nữa?

Ở chỗ người khác tìm thấy được và có bối cảnh đi kèm: từ điển, kho ngữ liệu, hoặc ít nhất một bản sao có tên, tuổi, nơi, ngày. Bản ghi cất trong một điện thoại là bản ghi sẽ mất theo cái điện thoại ấy. Gửi đi là cách để nó sống lâu hơn người ghi.

Từ đang mất có đáng giữ hơn từ mới không?

Không phải hơn, mà là gấp hơn. Từ mới sẽ còn đó để ghi năm sau. Từ đang mất thì năm sau có thể không còn ai nói. Giữ là giữ cả hai đầu, nhưng thứ tự việc làm thì từ đang mất đi trước.

Ghi từ có ngăn được từ mất không?

Không, và không cần. Từ mất theo đời sống, không ai giữ được từ đèn măng sông sống khi không còn đèn măng sông. Ghi không để giữ từ sống, mà để khi từ mất thì vẫn còn biết nó là gì. Đó là việc của ký ức, không phải của việc chống lại thời gian.

Ghi có ích gì cho người trẻ?

Cho họ nghe được ông bà mình nói sau này, và cho họ biết những từ trong sách cũ nghĩa gì. Một người trẻ đọc Hồ Biểu Chánh mà có bản ghi ông bà mình nói cùng lớp tiếng ấy thì hiểu sách hơn nhiều. Ghi là nối người trẻ với sách và với người.

Ghi có ích gì cho từ điển?

Cho từ điển chứng cứ mà sách không có: giọng, câu thật, tuổi và nơi của người nói. Từ điển VietLayers dựng mỗi mục từ trên chứng cứ, và bản ghi từ người thật là chứng cứ mạnh nhất cho từ đang mất. Một bản ghi tốt cứu được vài chục mục từ khỏi tình trạng chưa rõ.

Có ai đã làm và được gì không?

Sơn Nam đi ghi từ giữa thế kỷ 20, và nhờ vậy hôm nay còn biết bộ từ của nghề len trâu, nghề ăn ong, nghề rừng. Nếu ông không đi sớm, những từ ấy đã là lỗ trống. Ông là chứng minh rằng ghi trước khi mất là việc có kết quả thật và lâu.

Nên bắt đầu từ đâu?

Từ người lớn tuổi nhất mình biết, tuần này. Bài về cách ghi trong cụm này nói từng bước. Không cần chuẩn bị lâu, vì cái cần giữ đang ít đi mỗi ngày, và một buổi ghi không hoàn hảo hôm nay vẫn hơn một buổi ghi hoàn hảo không bao giờ tới.

Cùng giải thích cho bài Từ Nam Bộ nào đang mất, đang đổi nghĩa, còn bài nào?

Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.