Âm: thủy
Nghĩa chữ
Chữ ghép từ 2 phần: 氵 bên trái, 麗 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ thủy 水, nghĩa là nước.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Chữ ghép từ 2 phần: 氵 bên trái, 麗 bên phải. Chữ nầy xếp vào bộ thủy 水, nghĩa là nước.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 灑 (6)
`Sái` có ba lớp không được nhập: (1) khẩu ngữ nói khớp hoặc vùng gần khớp bị vặn/trệch (*twisted, sprained, put out*); (2) theo quan niệm cũ, điều bị xem là gở hoặc phạm kiêng (*inauspicious, taboo*); (3) âm Hán Việt của `灑`, nghĩa rảy, rưới, vung, và mở sang vẻ tự nhiên không gò bó trong `sái lạc`, `sái lệ`, `sái tảo`, `sái thoát`. Nét chấn thương không xác định bong gân, trật khớp, gãy xương hay cách chữa; nét kiêng kỵ không chứng minh điềm báo hoặc quan hệ nhân quả; chữ `灑` chỉ áp dụng đúng lớp Hán Việt, không phải mặt chữ chung cho hai nét Việt. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ, `trẹo tay/chân`, `nói xui`, `rưới/rảy nước` thường tự nhiên hơn. Phân biệt `sái` với `sai`, `sài`, `sãi`, và đặc biệt `sái lạc 灑落` nghĩa thảnh thơi với `sai lạc` không dấu nghĩa không đúng. Revision nầy bổ sung lớp `灑` có chứng tích mà vẫn giữ nguyên hai lớp đã xuất bản ở batch 286.
`Sái lệ` là từ Hán Việt văn chương `灑淚`, nghĩa rơi/chảy nước mắt vì đau lòng, thương tiếc hoặc xúc động mạnh (*shed tears, weep*). Từ không cho biết người khóc thành tiếng, mức đau buồn, nguyên nhân, bệnh lý hay sự chân thành; các điều ấy phải theo văn cảnh. Nay từ rất hiếm, thường chỉ gặp trong văn tế, thơ văn cổ hoặc chú giải; lời Sài Gòn và Nam Bộ hiện nay dùng `rơi nước mắt`, `chảy nước mắt`, `khóc`, `khóc thương` tự nhiên hơn. Phân biệt `sái lệ` với `lệ` là nước mắt, `sám lệ` không phải từ này, và với `sái` nghĩa trẹo khớp. Mặt chữ `灑淚` chỉ áp dụng đúng toàn từ.
Run mạnh hay run liên hồi, khó giữ vững, ở người, tay chân vì lạnh, sợ, mừng, xúc động hay đau yếu; nói rộng ra là lá cây, con vật nhỏ rung khẽ không ngớt.
`Sái lạc` là từ Hán Việt văn chương `灑落`, tả dáng vẻ hoặc phong thái thảnh thơi, khoáng đạt, tự nhiên, không bị gò bó (*free and easy, unrestrained, open in manner*). Từ nay hiếm, chủ yếu gặp trong văn cổ, khảo cứu hoặc lời dịch có chủ ý giữ màu Hán Việt; trong lời Sài Gòn và Nam Bộ hiện nay, `thảnh thơi`, `thoải mái`, `phóng khoáng`, `tự nhiên` thường rõ hơn. Từ không tự chứng minh người đó vô lo, giàu có, không có trách nhiệm, bất chấp quy tắc hay có tính cách tốt. Phân biệt tuyệt đối `sái lạc` dấu sắc `灑落` với `sai lạc` không dấu nghĩa không đúng/chệch khỏi thực tế, và với `sa lạc` là rơi/lạc vào cảnh nào đó. Hai mặt chữ `灑`, `落` chỉ áp dụng toàn từ Hán Việt này.
`Sái tảo` là từ Hán Việt cũ `灑掃`: rảy nước rồi quét để bụi khỏi bay, rộng ra là việc quét dọn trong nhà (*sprinkle and sweep; household cleaning*). Nguồn cũ còn gắn việc này với phụ nữ; đó là dấu vết phân công giới trong xã hội xưa, không phải quy tắc tự nhiên hay khuyến nghị hiện nay. Từ không tự nói mặt sàn đã sạch, đã khử khuẩn, ai có nghĩa vụ, người làm thuộc giới nào hoặc công việc chỉ có quét. Trong lời Sài Gòn và Nam Bộ hiện nay dùng `rảy nước quét nhà`, `quét dọn`, `dọn dẹp` rõ hơn. Phân biệt `sái tảo` với `tảo` là sớm hoặc rong/tảo trong các chữ khác, và không đọc thành `sai tạo`. Hai chữ `灑掃` chỉ áp dụng đúng mục lịch sử này.
`Sái thoát` là từ Hán Việt văn chương `灑脫`, tả người, phong thái hoặc cách biểu đạt tự do, tự nhiên, thảnh thơi, không gò bó (*free and easy, unrestrained, natural*). Một số nguồn Hán văn còn có nét khéo gọn, nhanh nhẹn hoặc thoát khỏi sự ràng buộc; trong tiếng Việt nên dịch theo câu, không tự nhập mọi nét. Từ không đồng nghĩa cẩu thả, vô trách nhiệm, bất chấp phép tắc, đã thoát nợ/pháp lý hay giác ngộ tâm linh. Nay hiếm ngoài văn chương và khảo cứu; lời Sài Gòn và Nam Bộ thường dùng `phóng khoáng`, `thoải mái`, `tự nhiên`, `không gò bó`. Phân biệt `sái thoát` với `giải thoát` là làm/được thoát khỏi ràng buộc cụ thể, `thoát tục` là vượt vẻ trần tục, và `sái lạc` gần nghĩa nhưng là một mục riêng `灑落`.