Hiểu cho đúng
Truyện Bình Nguyên Lộc ghi tiếng nào của Nam Bộ?
Bình Nguyên Lộc sinh năm 1914 ở Tân Uyên, vùng miền Đông, và viết nhiều nhất về miền Đông và Sài Gòn giữa thế kỷ 20. Ông là nguồn tốt cho hai lớp tiếng ít được ghi hơn miền Tây: tiếng miền Đông và tiếng Sài Gòn thời phố xá lớn nhanh. Ông còn khảo cứu ngôn ngữ, nên hay chú thích từ ngay trong truyện.
Viết cho người nghiên cứu tiếng miền Đông và tiếng Sài Gòn, và cho người đọc muốn tìm giọng Nam Bộ trong truyện ngắn.
Bình Nguyên Lộc là ai?
Là nhà văn sinh năm 1914 ở Tân Uyên, vùng miền Đông, viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp bút và khảo cứu từ giữa thế kỷ 20. Ông được biết nhiều nhất qua tiểu thuyết Đò dọc và truyện ngắn Rừng mắm, và qua các công trình khảo cứu về tiếng Việt và nguồn gốc dân tộc.
Ông ghi tiếng vùng nào?
Tiếng miền Đông, quê ông, và tiếng Sài Gòn giữa thế kỷ 20, nơi ông sống và viết. Đây là hai lớp tiếng ít được ghi hơn miền Tây, nên ông là nguồn quý. Rừng mắm thì ghi miền Tây thời mở đất, cho thấy ông cũng nghe được giọng ấy.
Đò dọc cho thấy gì?
Cho thấy một gia đình Sài Gòn dời về Thủ Đức và tiếng nói của họ đổi theo: từ phố, từ quê, cách nói của người lớn tuổi và người trẻ trong cùng nhà. Đây là chứng liệu hiếm về việc tiếng Sài Gòn và tiếng miền Đông gặp nhau trong một gia đình.
Rừng mắm cho thấy gì?
Cho thấy tiếng của người mở đất ở vùng bùn lầy ven biển miền Tây: mắm, tràm, đất bồi, và cách một gia đình ba đời nói về việc bám đất. Truyện ngắn này còn là hình ảnh hay được dẫn về công khẩn hoang, và từ trong đó là từ của nghề và của đất.
- rừng mắm
- Rừng cây mắm mọc đầu tiên trên đất bồi ven biển, giữ đất cho cây khác.
- mắm
- Cây mắm, loại cây tiên phong trên bùn mặn; khác với mắm là món ăn.
Tạp bút về Sài Gòn của ông có gì?
Có phố xá Sài Gòn giữa thế kỷ 20 kể bằng chân đi bộ: tên đường, tên chợ, quán xá, nghề vỉa hè, và từ của người thành phố thời ấy. Tập Những bước lang thang trên hè phố là kho từ Sài Gòn giữa thế kỷ 20 đứng cạnh sách của Vương Hồng Sển.
Ông có chú thích từ trong truyện không?
Có, và khá thường, vì ông vừa viết vừa khảo cứu. Gặp một từ vùng hay từ cũ, ông hay dừng lại giải thích trong một hai câu. Điều này tiện cho người tra, nhưng cần nhớ chú thích ấy là hiểu biết của ông, không phải kết luận nghiên cứu.
Phần khảo cứu của ông đọc thế nào?
Đọc như giả thuyết. Lột trần Việt ngữ và công trình về nguồn gốc dân tộc đưa ra nhiều cách giải thích từ nguyên táo bạo, phần lớn chưa được kiểm chứng bằng phương pháp hiện đại. Dùng để biết có hướng ấy, rồi kiểm từng từ bằng chứng cứ riêng.
Vì sao phải tách truyện với khảo cứu khi dùng ông?
Vì hai thứ có giá trị chứng cứ khác nhau. Truyện ghi cách dùng từ thật, là chứng liệu tốt. Khảo cứu đưa ra giải thích về nguồn gốc, là giả thuyết. Lẫn hai thứ là lấy giả thuyết làm chứng cứ, lỗi thường gặp khi dẫn ông.
Lớp từ nào có nhiều ở ông?
Từ về đất và cây của miền Đông và vùng bồi ven biển, từ về phố xá Sài Gòn, từ về tâm lý và cách nói của người thành phố, và nhiều từ ông tự giải thích. So với Hồ Biểu Chánh, ông ít từ về ruộng lúa và họ hàng, nhiều từ về phố và về đất mới.
Ông viết lời thoại có cách điệu không?
Có nhiều hơn Hồ Biểu Chánh: nhân vật của ông nói có ý tứ và có khi triết lý. Vì thế lời thoại của ông tốt cho từ vựng, kém hơn cho nhịp nói thật. Lời kể và tạp bút của ông thì gần tiếng nói hơn.
Lấy chứng liệu từ ông thế nào?
Như với mọi tác giả: chép nguyên văn, ghi tác phẩm, năm, vị trí, đọc cả đoạn. Thêm một bước: nếu câu có chú thích của ông về từ, ghi chú thích ấy là lời tác giả, không ghi vào phần nghĩa của mục từ như thể đó là kết luận.
Nên đọc quyển nào trước?
Rừng mắm trước vì ngắn và đậm, rồi Đò dọc để thấy hai lớp tiếng trong một nhà, rồi tạp bút về Sài Gòn. Khảo cứu đọc sau cùng, khi đã có nền để đọc nó như giả thuyết.
Ông có góp cho tiếng miền Tây không?
Có qua Rừng mắm và vài truyện khác, nhưng ít hơn Sơn Nam. Với miền Tây, ông là nguồn phụ để đối chiếu; với miền Đông và Sài Gòn giữa thế kỷ 20, ông là nguồn chính.
Từ điển VietLayers dùng ông thế nào?
Lấy chứng liệu từ truyện và tạp bút, ghi tác phẩm và vị trí. Chú thích từ nguyên trong sách ông được ghi ở phần nguồn gốc với mức chắc chắn thấp và ghi rõ là theo ông, không ghi như kết luận.
Đọc ông để học gì về tiếng Nam Bộ?
Học rằng tiếng Nam Bộ có nhiều vùng, và miền Đông có giọng riêng ít người ghi. Học cách tiếng Sài Gòn giữa thế kỷ 20 nghe ra sao qua một người thành phố hay đi bộ. Và học cách phân biệt chứng cứ với giả thuyết ngay trong một tác giả.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
Dựa trên những công trình nào?
Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.
- Bình Nguyên Lộc, Đò dọc (1959). Tiểu thuyết về một gia đình rời Sài Gòn về Thủ Đức, ghi tiếng của cả phố lẫn quê.
- Bình Nguyên Lộc, Ký thác (1960). Tập truyện ngắn có Rừng mắm, truyện về người mở đất ở miền Tây.
- Bình Nguyên Lộc, Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc (1966). Tạp bút về Sài Gòn, nhiều từ và địa danh của thành phố giữa thế kỷ 20.
- Bình Nguyên Lộc, Lột trần Việt ngữ (1972). Khảo cứu về tiếng Việt, đọc như giả thuyết cần kiểm chứng.
Cùng giải thích cho bài Văn học Nam Kỳ làm chứng liệu ngôn ngữ ra sao, còn bài nào?
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.