Hiểu cho đúng
Một từ cần bao nhiêu chứng cứ mới tính là có?
Một lần thấy là quan sát, hai lần độc lập mới là bằng chứng. Với từ Nam Bộ, ngưỡng ấy là hai chứng cứ từ hai tác giả hoặc hai nguồn không chép nhau. Một chứng cứ cho biết một người đã dùng từ, có thể là cách dùng riêng của người ấy. Hai chứng cứ độc lập cho biết từ sống trong cộng đồng.
Viết cho người biên tập từ điển và người nghiên cứu cần một ngưỡng rõ để không đoán.
Ngưỡng là bao nhiêu?
Hai chứng cứ độc lập: hai tác giả khác nhau, hoặc hai nguồn không chép nhau, hoặc một văn bản và một ghi âm từ người không đọc văn bản ấy. Đạt ngưỡng thì từ được ghi là có thật. Chưa đạt thì vẫn ghi, nhưng ghi rõ là mới thấy ở một chỗ.
Vì sao không phải một?
Vì một chứng cứ chỉ cho biết một người đã dùng từ, và người ấy có thể tự đặt ra, viết sai, hoặc dùng cách riêng của nhà mình. Tiểu thuyết có nhiều từ tác giả đặt cho vui. Từ điển ghi một từ như thế là ghi một trò đùa thành một từ.
Vì sao không phải nhiều hơn hai?
Vì với từ hiếm và từ cũ, đòi ba bốn chứng cứ là đòi điều không có, và từ điển sẽ bỏ sót chính những từ cần ghi nhất. Hai là ngưỡng đủ để loại từ riêng của một người, mà vẫn giữ được từ hiếm thật.
Thế nào là hai chứng cứ độc lập?
Là hai chứng cứ mà cái này không sinh ra từ cái kia. Hai tác giả cùng thời không đọc nhau là độc lập. Một tác giả trích một tác giả khác là không độc lập. Một từ điển chép lại một tiểu thuyết rồi tiểu thuyết ấy là hai nguồn nhưng một chứng cứ.
- độc lập
- Hồ Biểu Chánh và một tờ báo cùng năm không dẫn ông.
- không độc lập
- Một khảo cứu dẫn câu của Hồ Biểu Chánh rồi tính là nguồn thứ hai.
- độc lập
- Một câu trong sách và một câu ghi âm từ người chưa đọc sách ấy.
Từ điển cũ có tính là một chứng cứ không?
Có, nếu từ điển ấy ghi từ nghe được, như Đại Nam Quấc âm tự vị ghi tiếng nói cuối thế kỷ 19. Không, nếu từ điển ấy chép lại từ điển khác. Với từ điển, cần biết người soạn lấy từ ở đâu trước khi tính.
Ghi âm có tính là chứng cứ không?
Có, và là chứng cứ mạnh cho từ đang sống, nếu ghi đủ bối cảnh: người nói, tuổi, nơi sinh, ngày ghi. Hai người nói ở hai nhà khác nhau cùng dùng một từ là hai chứng cứ độc lập. Ghi âm không có bối cảnh thì không tính.
Xuất hiện trong kho ngữ liệu có tính là chứng cứ không?
Có, nhưng kho ngữ liệu chỉ là nơi tìm, còn chứng cứ vẫn là câu văn trong tác phẩm cụ thể. Và một chuỗi chữ xuất hiện trong văn bản chưa chắc là từ: hai tiếng đứng cạnh nhau tình cờ cũng xuất hiện. Phải đọc câu để biết đó là từ hay chỉ là hai tiếng liền nhau.
Từ chỉ có một chứng cứ thì làm gì?
Ghi vào hàng chờ với chứng cứ ấy, đánh dấu là mới thấy ở một chỗ, và tìm thêm ở tác giả cùng thời hoặc ngoài điền dã. Không xóa, vì từ hiếm thật thường bắt đầu bằng một chứng cứ. Không công bố như từ đã chắc, vì có thể là từ riêng của một người.
Từ có nhiều chứng cứ nhưng cùng một tác giả thì sao?
Tính là một chứng cứ. Mười lần trong mười quyển của cùng tác giả vẫn là một người dùng. Từ điển ghi là thấy nhiều ở một tác giả và tìm thêm ở người khác. Hồ Biểu Chánh viết nhiều tới mức nhiều từ rơi vào trường hợp này.
Chứng cứ cho nghĩa có khác chứng cứ cho từ không?
Có. Từ có thể đủ chứng cứ mà một nét nghĩa của nó chỉ có một. Mỗi nét nghĩa cần chứng cứ riêng, và nét chỉ có một chứng cứ được ghi kèm dấu hiệu ấy. Từ điển VietLayers xếp nét nghĩa theo số chứng cứ, nét chắc trước, nét mỏng sau.
Chứng cứ cho cách viết có khác không?
Có. Một dạng viết cần chứng cứ từ bản in gốc, không từ bản đánh máy lại. Chơn có chứng cứ về cách viết khi thấy trong bản in đầu, còn bản in lại đã sửa thành chân thì chỉ là chứng cứ cho từ, không cho cách viết.
Ngưỡng này có áp cho nguồn gốc từ không?
Áp mạnh hơn. Nguồn gốc cần hai thứ: từ gốc còn đối chiếu được và một đường tiếp xúc thật. Chỉ có tiếng nghe giống thì không tính. Chưa đủ thì từ điển ghi là chưa rõ, vì nguồn gốc đoán sai sẽ được chép lại khắp nơi.
Người nghiên cứu áp ngưỡng này thế nào trong khóa luận?
Nêu ngưỡng ở phần phương pháp, rồi với mỗi từ ghi số chứng cứ và nguồn của từng chứng cứ. Chia từ thành hai bảng: đủ ngưỡng và chưa đủ. Người đọc thấy ngay kết luận nào chắc, kết luận nào mới là gợi ý.
Vì sao từ điển hay phạm lỗi ở chỗ này?
Vì áp lực có nhiều từ: một từ điển dày có vẻ hơn một từ điển mỏng. Nên nhiều từ điển ghi từ nghe một lần, chép từ điển khác, và từ giả lan từ sách này sang sách kia. Ngưỡng hai chứng cứ là cách chống lại áp lực ấy.
Từ điển VietLayers áp ngưỡng này ra sao?
Mỗi mục từ ghi chứng liệu với tác giả, tác phẩm, vị trí, để đếm được. Mục chưa đủ ngưỡng ở lại hàng chờ và không công bố như mục đã chắc. Người gửi từ được khuyến khích gửi kèm câu và bối cảnh, vì một câu có bối cảnh là một chứng cứ, một từ trơn thì chưa.
Cùng giải thích cho bài Văn học Nam Kỳ làm chứng liệu ngôn ngữ ra sao, còn bài nào?
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.