Hiểu cho đúng
Ký và khảo cứu của Sơn Nam ghi tiếng miền Tây thế nào?
Sơn Nam sinh năm 1926 ở Kiên Giang và dành cả đời đi, nghe và viết về miền Tây. Ông viết truyện, và ông viết khảo cứu, và cả hai đều đầy từ về sông nước, rừng, nghề nông, nghề cá, cách sống thời mở đất. Từ trong sách ông là từ nghe từ người thật, kèm bối cảnh.
Viết cho người nghiên cứu và người biên tập từ điển cần từ về miền Tây, và cho người miền Tây muốn đọc lại quê mình.
Sơn Nam là ai?
Là nhà văn và nhà khảo cứu sinh năm 1926 ở Kiên Giang, viết về miền Tây từ giữa thế kỷ 20 tới đầu thế kỷ 21. Ông nổi tiếng với tập truyện Hương rừng Cà Mau và các khảo cứu về miệt vườn, khẩn hoang và đất Gia Định. Người ta gọi ông là nhà Nam Bộ học.
Ông ghi từ bằng cách nào?
Bằng đi và nghe. Ông đi khắp miền Tây, ngồi với người làm nghề, nghe kể, rồi viết lại kèm bối cảnh: nghề gì, ở đâu, thời nào. Từ trong sách ông vì thế không phải từ tra từ điển mà là từ nghe từ miệng người thật, và đó là giá trị lớn nhất của ông.
Truyện và khảo cứu của ông khác nhau ở chứng liệu thế nào?
Truyện cho từ trong lời nói và lời kể, có nhân vật và tình huống. Khảo cứu cho từ trong giải thích, có gốc gác của nghề và của vùng. Truyện tốt cho cách dùng, khảo cứu tốt cho nghĩa và cho bối cảnh lịch sử. Dùng cả hai, mỗi thứ cho một việc.
Hương rừng Cà Mau cho từ gì?
Từ về rừng tràm, rừng đước, sông rạch, cá tôm, ghe xuồng, và nghề của người mở đất ở vùng Cà Mau, Rạch Giá: len trâu, đốn củi, bắt sấu, ăn ong. Mỗi truyện là một nghề hoặc một cảnh sống, và từ đi theo nghề ấy.
- tràm
- Cây tràm, rừng tràm ở vùng đất phèn miền Tây.
- đước
- Cây đước, rừng đước ở vùng ngập mặn ven biển.
- mùa nước nổi
- Mùa nước sông dâng ngập đồng, có nhịp sống riêng.
Văn minh miệt vườn cho từ gì?
Từ về vùng vườn cây ven sông Tiền, sông Hậu: miệt vườn, cây trái, cách lập vườn, nếp nhà, cách gọi trong nhà, hội hè. Đây là quyển đặt tên và định nghĩa cho khái niệm miệt vườn, và phân biệt nó với miệt thứ, miệt ruộng.
- miệt vườn
- Vùng vườn cây trái trên đất cao ven sông, nếp sống ổn định.
- miệt thứ
- Vùng có các kênh đánh số thứ ở Kiên Giang, đất mới hơn.
Lịch sử khẩn hoang miền Nam cho từ gì?
Từ về cách mở đất, đào kênh, lập làng, và các nghề thời đầu: khẩn hoang, đắp đập, xổ phèn, lập ấp. Quyển này cho bối cảnh lịch sử của nhiều từ nghề, giải thích vì sao từ ấy sinh ra và ở đâu.
Ông có giải nghĩa từ trong sách không?
Có, thường ngay tại chỗ và bằng chuyện kể, không bằng định nghĩa khô. Ông kể một nghề rồi từ của nghề hiện ra với nghĩa rõ. Cách này làm sách ông vừa là chứng liệu vừa là từ điển sống cho từ miền Tây.
Ông có đáng tin về nguồn gốc từ không?
Ông thường thận trọng, nói rõ khi chỉ là lời kể dân gian, nhưng vẫn có chỗ đoán theo cách của người viết văn. Với nghĩa và cách dùng thì ông rất đáng tin. Với nguồn gốc từ, đọc ông rồi kiểm lại bằng chứng cứ riêng.
Lấy chứng liệu từ ông thế nào?
Chép nguyên văn, ghi tác phẩm, năm, trang. Với khảo cứu, ghi thêm là ông nói về vùng nào và thời nào, vì ông hay tả một nơi cụ thể. Với truyện, ghi tên truyện trong tập, vì mỗi truyện là một vùng nhỏ.
Ông có ghi tiếng Sài Gòn không?
Có qua Đất Gia Định xưa và một số bài về Sài Gòn, nhưng phần lớn về lịch sử vùng và cách đặt tên đất hơn là về lời nói hằng ngày. Với tiếng Sài Gòn, Vương Hồng Sển và Bình Nguyên Lộc là nguồn chính, Sơn Nam là nguồn đối chiếu về địa danh.
Từ nào trong sách ông nay đã ít gặp?
Từ của các nghề đã mất: len trâu, ăn ong, bắt sấu, đốn củi tràm, và đồ nghề đi cùng. Đọc ông là cách tốt nhất để hiểu những từ ấy trong bối cảnh, vì nay không còn ai làm nghề để hỏi.
Nên đọc quyển nào trước?
Hương rừng Cà Mau trước, vì là truyện và đọc nhanh, cho ngay một kho từ. Rồi Văn minh miệt vườn để có khung về vùng. Rồi Lịch sử khẩn hoang miền Nam để có bối cảnh thời gian. Ba quyển ấy là nền cho mọi tìm hiểu về từ miền Tây.
Ông có dạy gì về cách làm nghiên cứu không?
Bằng chính cách ông làm: đi tới nơi, ngồi với người làm nghề, nghe kể, ghi kèm bối cảnh, và viết ra cho người thường đọc được. Người muốn học điền dã ngôn ngữ ở miền Tây có thể học từ cách ông đi hơn từ bất kỳ giáo trình nào.
Từ điển VietLayers dùng ông thế nào?
Rất nhiều mục từ về miền Tây có chứng liệu từ ông, cả truyện lẫn khảo cứu, ghi tác phẩm và trang. Giải nghĩa của ông được đối chiếu với nguồn khác trước khi vào phần nghĩa, và lời kể dân gian trong sách ông được ghi rõ là lời kể.
Đọc ông để học gì về tiếng miền Tây?
Học rằng từ đi theo nghề và theo đất: biết nghề là biết từ, biết đất là biết từ. Và học rằng từ mất khi nghề mất, nên ghi phải đi trước. Ông ghi được nhiều vì ông đi sớm, khi nghề còn.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
Dựa trên những công trình nào?
Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.
- Sơn Nam, Hương rừng Cà Mau (1962). Tập truyện về miền Tây thời khẩn hoang, kho từ về sông nước, rừng và nghề.
- Sơn Nam, Văn minh miệt vườn (1970). Khảo cứu về vùng vườn cây ven sông và nếp sống của nó.
- Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973). Khảo cứu về cách mở đất và các nghề thời đầu.
- Sơn Nam, Tìm hiểu đất Hậu Giang (1959). Khảo cứu sớm về vùng Hậu Giang, nhiều địa danh và từ nghề.
Cùng giải thích cho bài Văn học Nam Kỳ làm chứng liệu ngôn ngữ ra sao, còn bài nào?
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.