Âm: bì
Bính âm (Pinyin): pí
Da dẻ con người, vỏ bọc ngoài thân thú.
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Bộ thứ 107 trong 214 bộ thủ Khang Hy (5 nét): Da dẻ con người, vỏ bọc ngoài thân thú.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Bộ bì (皮): Da dẻ con người, vỏ bọc ngoài thân thú.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 皮 (3)
Nói ngủ hay nằm mê mệt, say sưa kéo dài, khó tỉnh (ngủ li bì, nằm cảm li bì); còn nói uống rượu, nhậu nhẹt kéo dài liên miên không dứt (say li bì tối ngày).
Cơm tấm bì là món cơm tấm Sài Gòn và Nam Bộ dọn với bì: phần trộn lấy da heo xắt sợi làm thành tố chính, thường có thịt heo xắt sợi và thính gạo rang. Mỡ hành, nước mắm pha, dưa leo hoặc đồ chua là món kèm quen nhưng không phải mọi dĩa đều giống nhau. Nếu thêm chả, sườn, trứng thì tên gọi thường mở rộng thành cơm tấm bì chả, cơm tấm sườn bì hoặc tên tương ứng. Không dịch bì đơn giản là pork vì như vậy mất đặc điểm da heo xắt sợi; cũng không được tự thêm nguyên liệu mà câu không nêu.
`Rượu ngũ gia bì` là tên một loại rượu thuốc có dùng dược liệu hoặc bài phối hợp gọi là `ngũ gia bì` (*ngũ gia bì herbal liquor; medicinal liquor containing ngũ gia bì*). Không dịch máy móc thành *five-family-skin wine* và không xem tên là một công thức duy nhứt: ngay trong danh mục dược liệu của Bộ Y tế có các tên phân biệt như `ngũ gia bì chân chim`, `ngũ gia bì gai`; sản phẩm còn có thể phối hợp nhiều dược liệu khác. Vì vậy đầu mục không tự xác định loài cây, bộ phận dùng, tỉ lệ, nồng độ, cách bào chế, đường dùng, liều, công dụng hoặc độ an toàn. Từ điển chỉ nhận diện tên sản phẩm/rượu thuốc, không lặp lời quảng cáo chữa đau nhức, bồi bổ hay trị bệnh; người dùng phải đọc nhãn, hồ sơ và tư vấn chuyên môn phù hợp. Trong lời Nam Bộ, nói `chai rượu ngũ gia bì`, `rượu ngũ gia bì ngâm/phối hợp`, nhưng tránh rút gọn thành `ngũ gia bì` khi dễ lẫn cây, dược liệu hoặc rượu. Tab Hán Nôm để trống cho toàn cụm; không ghép chữ của từng thành tố để giả làm chứng tích lịch sử của tên sản phẩm.