Trụ cột số 9 / 10 trong Tiếng Việt toàn thư

Lịch sử Chữ viết

Hành trình ký âm tiếng mẹ đẻ từ Chữ Nôm, Tự điển 1651 đến Báo chí Nam Kỳ

Chữ viết là nơi lưu giữ linh hồn và ý chí tự chủ của một dân tộc. Trải qua hàng ngàn năm, người Việt đã sáng tạo nên Chữ Nôm để ghi lại tiếng nói ngàn đời, trước khi tiếp nhận và hoàn thiện Chữ Quốc ngữ La-tinh hóa thành một văn tự khoa học, tiện lợi. Miền Nam, với cái nôi Gia Định Báo, đã đóng vai trò mở đường rực rỡ cho nền báo chí và văn xuôi hiện đại.

Gồm 3 chuyên đề khảo cứu sâuChuẩn mực học thuật quốc tế OxfordDẫn chứng văn học Nam Bộ & Cổ điển chuẩn mực

10 Trụ Cột Tri Thức Tiếng Việt

Xem trang tổng quan

Nội Dung Khảo Cứu Chuyên Sâu

3 mục bài bản
Mục 1

Chữ Nôm: Đỉnh cao Ký âm Tự chủ Dân tộc

Hệ thống văn tự tượng hình do tiền nhân sáng tạo để ghi lại âm điệu thuần Việt bằng các yếu tố chữ Hán.

Đặc Điểm Cốt Lõi

  • Xuất hiện từ thời kỳ tự chủ, phát triển rực rỡ từ thời nhà Trần đến thế kỷ 18 và 19.
  • Cơ chế cấu tạo chữ Nôm: Mượn trọn cả âm lẫn nghĩa; Mượn âm đọc chệch; hoặc Ghép hai chữ Hán lại thành một chữ Nôm mới (một bên chỉ nghĩa, một bên chỉ âm đọc).
  • Công cụ ghi lại những kiệt tác văn học bất hủ: Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu.

Dẫn Chứng Văn Học & Ngữ Liệu Kinh Điển

“Chữ Nôm vừa ghi được lời ăn tiếng nói bình dân nơi thôn dã, vừa chuyên chở được triết lý uyên áo của bậc đại gia văn học.”
Nhận định văn học sử

Thể hiện bản lĩnh sáng tạo độc lập của người Việt, biến Hán tự thành công cụ phụng sự cho tiếng mẹ đẻ.

Mục từ tiêu biểu:chữ nôm
Mục 2

Chữ Quốc ngữ & Tự điển Alexandre de Rhodes (1651)

Sự ra đời của hệ thống chữ viết dùng mẫu tự La-tinh ghi âm tiếng Việt, đánh dấu bước ngoặt ngôn ngữ học hiện đại.

Đặc Điểm Cốt Lõi

  • Sự hợp tác giữa các giáo sĩ phương Tây và các học giả, giáo dân người Việt vào đầu thế kỷ 17.
  • Cột mốc năm 1651: Xuất bản tại Roma cuốn tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Việt - Bồ - La).
  • Điểm sáng tạo đặc sắc: Dùng bảng chữ cái La-tinh bổ sung thêm các dấu phụ ngữ âm (ă, â, đ, ê, ô, ơ, ư) và 5 dấu thanh điệu vay mượn từ ký hiệu trường độ âm nhạc để ghi lại đầy đủ 6 thanh điệu tiếng Việt.

Dẫn Chứng Văn Học & Ngữ Liệu Kinh Điển

“Việc chuyển đổi từ ký tự tượng hình sang ký tự ghi âm La-tinh đã mở ra con đường phổ cập học vấn nhanh chóng chưa từng có cho dân tộc.”
Lịch sử ngôn ngữ học

Giúp việc học chữ trở nên dễ dàng, xóa bỏ sự ngăn cách giữa tầng lớp trí thức và quần chúng lao động.

Mục từ tiêu biểu:chữ quốc ngữ
Mục 3

Báo chí Nam Kỳ & Gia Định Báo (1865)

Cái nôi văn xuôi chữ Quốc ngữ hiện đại đầu tiên của Việt Nam, mở đầu cho kỷ nguyên truyền thông đại chúng.

Đặc Điểm Cốt Lõi

  • Ngày 15 tháng 4 năm 1865, tại Sài Gòn, Gia Định Báo tờ báo bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên trong lịch sử chính thức ra mắt.
  • Đóng góp kiệt xuất của các học giả phương Nam như Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của đưa tiếng Việt văn xuôi đời thường vào văn bản in ấn chính quy.
  • Biên soạn cuốn từ điển quốc ngữ đầu tiên do người Việt viết: Đại Nam quấc âm tự vị (1895 - 1896) của Paulus Huỳnh Tịnh Của.
  • Mở đường cho sự bùng nổ của tiểu thuyết, phóng sự và văn học chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ 20 với Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt.

Dẫn Chứng Văn Học & Ngữ Liệu Kinh Điển

“Gia Định Báo và Đại Nam quấc âm tự vị đã đặt nền móng vững chắc cho văn xuôi tiếng Việt hiện đại, khởi đi từ đất Sài Gòn Gia Định.”
Lịch sử văn học Nam Bộ

Tôn vinh cội nguồn Sài Gòn là cái nôi hiện đại hóa chữ Quốc ngữ của toàn dân tộc.

Mục từ tiêu biểu:quấc âm
Trụ cột trướcPhương ngữ & Kỵ húy
Trụ cột tiếp theoXưng hô Thân tộc