Nghĩa chữ
Chữ 棋 xuất hiện trong kho ngữ liệu từ vựng VietLayers.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 棋 (7)
Âm kỳ ứng với nhiều chữ Hán khác nhau, phải tách theo chữ: 奇 là lạ (kỳ cục, kỳ quá), 期 là lần, kỳ hạn (kỳ thi, kỳ nầy), 旗 là lá cờ (quốc kỳ), 棋 là cờ để đánh (kỳ phùng địch thủ), 圻 là cõi đất (Nam Kỳ), và 祈, 麒, 耆 trong Kỳ Yên, kỳ lân, kỳ lão.
Lối gọi Nam Bộ cho chùm bông đực trổ trên ngọn cây bắp, tung phấn khi chín, trông như lá cờ phất trên ngọn.
Khác thường tới mức khó hiểu, trông hay nghe thấy lạ lùng, có vẻ vô lý.
Là không hẹn mà xảy ra, và nó cũng làm danh từ: một sự tình cờ, nên trong truyện nó là cái cớ để hai người gặp nhau.
Là lối cờ chơi trên bàn có quân tướng quân sĩ, và ở Nam Bộ nó là thú của đờn ông lớn tuổi, nên có hẳn chữ bạn cờ tướng.
Gặp một người hay một vật mà mình không hẹn trước, không tính trước, chỉ nhờ may rủi mà gặp.
`Rượu sớm cờ trưa` là quán ngữ văn chương/cũ, gợi cảnh sáng uống rượu, trưa chơi cờ và qua đó tả đời sống ung dung, nhàn tản, ít vướng việc (*a life of leisurely morning drinking and midday chess*). Cụm có chứng tích trong *Truyện Kiều* ở câu `Mảng vui rượu sớm cờ trưa`; `mảng` mới là động từ chỉ mải vui, không phải một phần bắt buộc của đầu mục. Sắc thái do văn cảnh quyết định: có thể chỉ đơn thuần cảnh an nhàn, cũng có thể hàm ý mải hưởng nhàn, lơ là việc khác; không tự chứng minh người ấy giàu, lười, vô trách nhiệm, nghiện rượu hoặc đúng là đàn ông. `Cờ` ở đây là thú chơi trong hình ảnh song hành với rượu, không mặc định loại cờ hay một ván cụ thể. Khi dịch văn chương nên diễn ý thay vì ghép chữ cứng; trong lời Sài Gòn và Nam Bộ hiện nay, `sáng rượu trưa cờ`, `sống nhàn tênh`, `ung dung` chỉ là cách giải thích chứ không thay thế tuyệt đối. Tab Hán Nôm để trống cho toàn cụm.