Âm: cân
Bính âm (Pinyin): jīn
Khăn vải, dải lụa đội đầu.
Các chữ đơn trực thuộc bộ 巾 (3 chữ)
Chiết tự và cấu tạo hình tượng
Bộ thứ 50 trong 214 bộ thủ Khang Hy (3 nét): Khăn vải, dải lụa đội đầu.
Các thành phần cấu thành (bấm vào chữ để xem chi tiết)
Bộ cân (巾): Khăn vải, dải lụa đội đầu.
Mục từ trong Từ điển VietLayers có chứa chữ 巾 (9)
Quấn cái khăn lên đầu, lối đội khăn của người xưa.
Là cái khăn vải đen quấn quanh đầu, đi chung với áo dài, là bộ đồ trọng thể của đàn ông Nam Bộ thuở trước.
Khăn rằn là khăn vải dệt ô rằn, người Nam Bộ quấn đầu, quấn cổ, vắt vai, dùng che nắng và lau mặt.
Khăn sạt là khăn choàng đầu hay choàng cổ của phụ nữ, tên gọi cũ ở Nam Bộ vay tiếng Pháp écharpe.
Khỉ khăn là lối nói Nam Bộ xưa, nghĩa là tỉ tê, nhỏ to và thổ lộ nỗi lòng với một người thân cận. Trong Ngọn cỏ gió đùa, nhân vật khóc rồi ngồi khỉ-khăn tỏ nỗi tương tư cho chị nghe; chú giải nguồn ghi thẳng là tỉ tê. Bởi vậy, từ không chỉ âm lượng nói nhỏ mà còn có sắc thái chuyện riêng tư, tình cảm và kéo dài đủ để giãi bày. Không nhập khỉ khăn với mọi hành động thì thầm, trò chuyện hay kể chuyện; càng không hiểu theo nghĩa riêng của khỉ và khăn trong tiếng Việt hiện nay. Nguồn gốc sâu hơn chưa được xác minh.
Là khó, nói nhấn lên, và nó vừa làm tính từ vừa làm danh từ chỉ chính cái trở ngại, nên đếm được những khó khăn.
Khăn dệt bằng vải bông có sợi xù lên như lông, thấm nước nhiều, dùng lau mình, lau mặt, lau tóc; sách phổ thông gọi là khăn tắm hay khăn mặt.
Khăn mu-soa là khăn tay nhỏ bằng vải, mang trong túi để lau mặt, chậm nước mắt; tên gọi cũ ở Sài Gòn, vay tiếng Pháp mouchoir.
Quấn cái khăn đóng màu đen trên đầu, cách ăn mặc đàng hoàng của đàn ông Nam Bộ thời xưa, thường đi chung với áo dài.